Tổ Chức Xã Hội Là Gì? Đặc Điểm, Phân Loại Các Loại Tổ Chức Xã Hội

--- Bài mới hơn ---

  • Các Đặc Điểm Của Trách Nhiệm Hình Sự
  • Trách Nhiệm Hình Sự Là Gì?
  • Khái Niệm Và Đặc Điểm Của Tội Phạm
  • Khái Niệm Trách Nhiệm Hình Sự
  • Miễn Trách Nhiệm Hình Sự Là Gì? Các Trường Hợp Miễn Trách Nhiệm Hình Sự
  • Tổ chức xã hội là gì? Khái niệm, đặc điểm, phân loại các loại tổ chức xã hội. Có 5 loại tổ chức xã hội ở Việt Nam là tổ chức trính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, các tổ chức tự quản và tổ chức khác.

    Trong xã hội hiện nay chúng ta thường thấy có khá nhiều loại hình tổ chức xã hội, gần gũi nhất đối với hoạt động đời sống tại gia đình mỗi cá nhân đó là mô hình tổ dân phố tự quản hay thôn xóm hay Hội liên hiệp phụ nữ, hội cựu chiến binh …. hoặc chế độ mà chúng ta đang được lãnh đạo đó là dưới chế độ quản lý của Đảng cộng sản.

    Vậy thì những loại hình tổ chức xã hội này được hình thành, hoạt động có chịu sự quản lý, hay xuất phát từ đâu mà lập nên, các tổ chức này hoạt động dựa trên nguyên tắc nào?

    Tổ chức xã hội đứng gia nhân danh cho tổ chức của mình trong việc tham gia thực hiện đối với những hoạt động như quản lý nhà nước. Trường hợp pháp luật có quy định thì tổ chức xã hội sẽ nhân danh Nhà nước trong việc hoạt động của tổ chức.

    Các thành viên tham gia trong tổ chức xã hội hoạt động hoàn toàn dựa trên tinh thần tự nguyện và hoạt động dựa trên một mục đích chung hay đơn giản ở đây là họ thành lập dựa trên nguyên tắc cùng giai cấp, cùng công việc nghề nghiệp của mình.

    Tổ chức xã hội đề ra các nguyên tắc hoạt động của tổ chức đó và điều lệ của tổ chức do chính các thành viên của tổ chức đó lập nên. Các nguyên tắc, điều lệ này được lập ra phải đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật.

    Không như các loại tổ chức khác thường thấy, điểm khác biệt cơ bản của tổ chức xã hội đó là việc hoạt động của tổ chức không vì mục đích lợi nhuận mà mục đích của tổ chức này là để bảo vệ các quyền cũng như những lợi ích của các thành viên trong tổ chức.

    – Tổ chức chính trị:

    Thành viên tham gia trong tổ chức chính trị này là những người đại diện của cả một giai cấp hoặc là một lực lượng xã hội nên những thành viên trong tổ chức này là những người mà do được giai cấp hay lực lượng xã hội đó bầu lên.

    Tổ chức chính trị được công khai và thừa nhận chỉ khi quyền lực nhà nước đặt ra ở đây là thuộc về một lực lượng nhất định.

    Đối với tổ chức chính trị này thì nhiệm vụ đặt ra chủ yếu đó là việc giành chính quyền và giữ chính quyền.

    Ở nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì xác định rõ một điều rằng chỉ có duy nhất một tổ chức chính trị cầm quyền đó là Đảng cộng sản Việt Nam.

    – Tổ chức chính trị xã hội:

    Đây là một loại tổ chức chặt chẽ và được phân chia thành nhiều lớp để hoạt động hiệu quả.

    Tổ chức chính trị xã hội góp phần trong việc bảo vệ, xây dựng cũng như đối với sự phát triển của đất nước.

    Tổ chức hoạt động dựa trên nguyên tắc chính đó là nguyên tắc tập trung dân chủ, với hệ thống trải dài từ trung ương đến địa phương. Hoạt động theo điều lệ được lập tại hội nghị đại biểu các thành viên hoặc hội nghị toàn thể thông qua.

    Các loại tổ chức chính trị xã hội hiện nay gồm có Công đoàn, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Hội cứu chiến binh Việt Nam và Hội nông dân Việt Nam

    – Tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp:

    Loại hình tổ chức này được thành lập dựa trên ý kiến, sáng kiến cũng như nhu cầu của cơ quan Nhà nước.

    Đứng ra trợ giúp, hỗ trợ nhà nước trong việc giải quyết một số vướng mắc, vấn đề xã hội cụ thể.

    Được thành lập dựa trên những quy định của Nhà nước và chịu sự quản lý của cơ quan Nhà nước.

    – Tổ chức tự quản:

    Đây cũng là một loại hình tổ chức hình thành dựa trên sáng kiến, quan điểm của Nhà nước. Cộng đồng dân cư trên một địa bàn cụ thể sẽ bầu ra tổ chức tự quản dưới những cái tên cụ thể như tổ dân phố, thôn hay tổ hòa giải cơ sở … nhằm quản lý những công việc cụ thể mang tính cộng đồng hoặc được Nhà nước ủy quyền để thực hiện nhiệm vụ.

    Được thành lập dựa trên những quy định của Nhà nước và chịu sự quản lý của cơ quan Nhà nước.

    Thực hiện nhiệm vụ tự quản trên phạm vi nhất định cụ thể các công việc tại địa phương mà không chịu sự quản lý trực tiếp của Nhà nước.

    – Nhóm tổ chức khác:

    – Các tổ chức có tư cách pháp nhân gồm có tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp và tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp.

    – Tổ chức chính trị có tư cách pháp nhân tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của tổ chức mình.

    – Được thành lập theo sự cấp phép, cho phép của cơ quan Nhà nước trong việc thành lập và hoạt động, Nhà nước công nhận đối với điều lệ công ty, hội viên là các cá nhân tự nguyện trong việc đóng góp tài sản hoặc những khoản hội phí của cá nhân đó trong việc hình thành khối tài sản chung đối với việc duy trì, hoạt động của hội trong việc tham gia các quan hệ dân sự với tư cách là pháp nhân.

    – Điểm đáng lưu ý đó là không phải tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp nào cũng có tư cách pháp nhân mà chỉ những tổ chức có đầy đủ các điều kiện theo quy định của Bộ luật dân sự 2021 và chịu sự chi phối, điều chỉnh theo Bộ luật dân sự 2021.

    TƯ VẤN MỘT TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ:

    Xin chào anh/ chị! Cho em hỏi đơn vị tổ chức chính trị: Đảng CSVN Tổ chức chính trị xã hội: Mặt trận tổ quốc; Công đoàn; Đoàn Thanh niên, Hội LH Phụ nữ; Hội Nông dân Tổ chức Xã hội – Nghề nghiệp: Đoàn Luật sư; Trọng tài kinh tế Vậy Tổ chức xã hội và tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp gồm những đơn vị nào? Phần kể tên trên em có sót không ạ? Mong được hồi âm sớm.

    Tổ chức xã hội là một bộ phận của hệ thống chính trị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các tổ chức xã hội đã góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động. Là một hình thức tổ chức nhân dân tham gia quản lý nhà nước, các tổ chức xã hội được hiểu là hình thức tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức ở Việt Nam có chung mục đích tập hợp, hoạt động theo pháp luật và điều lệ, không vì lợi nhuận nhằm đáp ứng những lợi ích chính đáng của các thành viên và tham gia vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội.

    Các tổ chức xã hội có những đặc điểm chung nhất định, phân biệt với các cơ quan nhà nước và các tổ chức kinh tế. Các đặc điểm đó bao gồm:

    – Các tổ chức xã hội nhân danh chính tổ chức mình để tham gia các hoạt động quản lý nhà nước, chỉ trong trường hợp đặc biệt do pháp luật quy định tổ chức xã hội mới hoạt động nhân danh nhà nước.

    – Các tổ chức xã hội hoạt động tự quản theo quy định của pháp luật và theo điều lệ do các thành viên trong tổ chức xây dựng.

    – Các tổ chức xã hội hoạt động không nhằm mục đích lợi nhuận mà nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên.

    Thứ nhất, có 5 loại tổ chức xã hội ở Việt Nam là tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, các tổ chức tự quản và tổ chức khác.

    – Là tổ chức mà thành viên cùng hoạt động với nhau vì một khuynh hướng chính trị nhất định.

    – Chỉ được công khai thừa nhận nếu quyền lực nhà nước thuộc về một lực lượng nhất định.

    – Thanh viên của tổ chức này là đại diện của một giai cấp hay một lực lượng xã hội nên phải bầu cử mới được gia nhập

    – Nhiệm vụ chủ yếu là giành và giữ chính quyền

    – Nước Việt Nam có một tổ chức chính trị duy nhất là Đảng Cộng Sản Việt Nam.

    – Tổ chức mang màu sắc chính trị với vai trò là đại diện của các tầng lớp trong xã hội đối với hoạt động của nhà nước cũng như đóng một vai trò quan trọng trong hệ thống chính trị, cơ sở của chính quyền nhân dân.

    – Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ và chia thành nhiều lớp hoạt động.

    – Ở Việt Nam hiện có 6 tổ chức chính trị xã hội là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Công đoàn, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam và Hội cựu chiến binh Việt Nam.

    – Thành lập theo sang kiến của nhà nước

    – Hình thành theo các quy định của nhà nước và được quản lý chặt chẽ bởi cơ quan nhà nước.

    – Hỗ trợ nhà nước giải quyết một số vấn đề xã hội

    – Hoạt động tự quản, cơ cấu do nội bộ tổ chức quyết định, hoạt động không mang tính quyền lực chính trị và hoàn toàn tự nguyện.

    – Thành lập theo sang kiến của nhà nước

    – Hình thành theo quy định nhà nước và được quản lý bởi cơ quan nhà nước

    – Thực hiện nhiệm vụ tự quản ở phạm vi nhất định các công việc mà nhà nước không trực tiếp quản lý.

    ví dụ như tổ dân phố..

    Các hội được thành lập theo dấu hiệu nghề nghiệp, sở thích hoặc các dấu hiệu khác, được thành lập trên cơ sở quyền tự do lập hội của công dân ví dụ như hội người mù, các câu lạc bộ…

    Thứ hai, Điều 104 “Bộ luật dân sự năm 2021” quy định pháp nhân là tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp:

    “1. Tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập, công nhận điều lệ và có hội viên là cá nhân, tổ chức tự nguyện đóng góp tài sản hoặc hội phí nhằm phục vụ mục đích của hội và nhu cầu chung của hội viên là pháp nhân khi tham gia quan hệ dân sự.

    2. Tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản của mình.

    3. Trong trường hợp tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp chấm dứt hoạt động thì tài sản của tổ chức đó không được phân chia cho các hội viên mà phải được giải quyết theo quy định của pháp luật.”

    Theo đó, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp có đặc điểm: được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập, công nhận điều lệ. Hội viên có thể bao gồm cả cá nhân và tổ chức, tài sản của loại tổ chức này được hình thành chủ yếu từ sự đóng góp tự nguyện của các hội viên hoặc hội phí, nhằm phục vụ cho nhu cầu chung của hội viên và mục đích của tổ chức.

    Chỉ các tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp thỏa mãn đầy đủ các điều kiện quy định tại Điều 84 “Bộ luật dân sự năm 2021″mới trở thành tổ chức có tư cách pháp nhân và chịu sự điều chỉnh của các Khoản 2,3 của điều luật này. Pháp nhân là tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp phải chịu trách nhiệm độc lập bằng tài sản của mình như các pháp nhân nói chung.

    Khoản 3 Điều 104 “Bộ luật dân sự năm 2021″chỉ nhằm xác định rõ tính chất độc lập trong việc gánh vác trách nhiệm dân sự của tổ chức này: có sự tách biệt rõ ràng giữa tài sản riêng của hội viên và tài sản của tổ chức; hội viên không có nghĩa vụ phải đem tài sản của mình để thực hiện nghĩa vụ dân sự của tổ chức. Như vậy, không có quy định đơn vị cụ thể nào được coi là tổ chức tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Và Đặc Điểm Của Tổ Chức Xã Hội
  • Doanh Nghiệp Xã Hội Là Gì?
  • Nhà Ở Xã Hội Là Gì? Đặc Điểm Của Noxh Tp.hcm
  • Mạng Xã Hội Là Gì Và Mang Những Đặc Điểm Nào?
  • Khách Hàng Mục Tiêu Là Gì? 4 Chiến Lược Marketing Nhắm Đúng Mục Tiêu
  • Mạng Xã Hội Là Gì Và Mang Những Đặc Điểm Nào?

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhà Ở Xã Hội Là Gì? Đặc Điểm Của Noxh Tp.hcm
  • Doanh Nghiệp Xã Hội Là Gì?
  • Khái Niệm Và Đặc Điểm Của Tổ Chức Xã Hội
  • Tổ Chức Xã Hội Là Gì? Đặc Điểm, Phân Loại Các Loại Tổ Chức Xã Hội
  • Các Đặc Điểm Của Trách Nhiệm Hình Sự
  • Theo tổng hợp trên Wikipedia, mạng xã hội với cách gọi đầy đủ là “dịch vụ mạng xã hội” (tiếng Anh là “social network service”) hay “trang mạng xã hội”, là nền tảng trực tuyến nơi mọi người dùng để xây dựng các mối quan hệ với người khác có chung tính cách, nghề nghiệp, công việc, trình độ,… hay có mối quan hệ ngoài đời thực.

    Mạng xã hội có nhiều dạng thức và tính năng khác nhau, có thể được trang bị thêm nhiều công cụ mới, và có thể vận hành trên tất cả các nền tảng như máy tính để bàn, máy tính xách tay, máy tính bảng hay điện thoại thông minh.

    Mạng xã hội cho phép người dùng chia sẻ câu chuyện, bài viết, ý tưởng cá nhân, đăng ảnh, video, đồng thời thông báo về hoạt động, sự kiện trên mạng hoặc trong thế giới thực. Nếu như trong mô hình mạng xã hội truyền thống, ví dụ như sự kiện hội chợ, đã tồn tại từ lâu trong lịch sử thì mạng xã hội trên web giúp người dùng kết nối với những người sống ở nhiều vùng đất khác nhau, ở thành phố khác hoặc trên toàn thế giới.

    Sự thành công của mạng xã hội có thể nhìn thấy được bằng mức độ phổ biến trong xã hội ngày nay, ví dụ như Facebook có hơn 2,3 tỷ người dùng hàng tháng theo số liệu mới nhất.

    Tùy vào từng nền tảng mạng xã hội, nhưng thường các thành viên có thể liên hệ với bất kỳ thành viên nào khác. Trong một số trường hợp khác, các thành viên có thể liên hệ bất kỳ ai họ có mối liên hệ.

    Như LinkedIn, mạng xã hội nghề nghiệp này yêu cầu thành viên phải quen biết nhau trong đời thực trước khi có thể liên hệ với nhau trên mạng. Một vài mạng xã hội khác cũng yêu cầu cần phải có sẵn mối quen biết để liên hệ.

    Nhìn chung có nhiều mô hình mạng xã hội khác nhau, nhưng hầu hết mạng xã hội có những đặc điểm chung như:

    + Mạng xã hội là ứng dụng trên nền tảng Internet

    + Nội dung trên mạng xã hội là do người dùng tự sáng tạo, chia sẻ

    + Người dùng tạo ra hồ sơ cá nhân phù hợp cho trang hoặc ứng dụng được duy trì trên nền tảng mạng xã hội

    + Mạng xã hội tạo điều kiện cho sự phát triển của cộng đồng xã hội trên mạng bằng cách kết nối tài khoản của người dùng với tài khoản của các cá nhân, tổ chức khác.

    Từ khi bắt đầu xuất hiện, mạng xã hội mang lại những lợi ích không nhỏ trong nhiều lĩnh vực, ngành nghề, trong liên hệ công việc, tuyển dụng, trao đổi, học hỏi, kinh doanh, mua bán, tương tác xã hội…

    Trong thời gian qua ở Việt Nam cũng có nhiều mô hình dịch vụ mạng xã hội ra đời như Zing Me, YuMe, Go, Keeng, Tamtay…, nhưng đều chưa thành công hay thành công ở mức hạn chế.

    Vừa qua vào chiều 15/6/2019, Bộ trưởng Bộ Thông tin & Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng đã có buổi gặp gỡ với cộng đồng công nghệ thông tin – truyền thông phía Nam, trong đó Bộ trưởng khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam xây dựng một mạng xã hội mới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khách Hàng Mục Tiêu Là Gì? 4 Chiến Lược Marketing Nhắm Đúng Mục Tiêu
  • Dịch Vụ Khách Hàng Là Gì? Đặc Điểm Và Tầm Quan Trọng Của Nó
  • Hành Vi Khách Hàng Là Gì? 5 Bước Nghiên Cứu Hành Vi Khách Hàng.
  • 5 Đặc Điểm Tâm Lý Khách Hàng Thường Gặp Và Cách Xử Lý Phù Hợp
  • Khách Hàng Mục Tiêu Là Gì? Cách Xác Định Khách Hàng Mục Tiêu
  • Nhà Ở Xã Hội Là Gì? Đặc Điểm Của Noxh Tp.hcm

    --- Bài mới hơn ---

  • Doanh Nghiệp Xã Hội Là Gì?
  • Khái Niệm Và Đặc Điểm Của Tổ Chức Xã Hội
  • Tổ Chức Xã Hội Là Gì? Đặc Điểm, Phân Loại Các Loại Tổ Chức Xã Hội
  • Các Đặc Điểm Của Trách Nhiệm Hình Sự
  • Trách Nhiệm Hình Sự Là Gì?
  • Nhà Ở Xã Hội là gì?

    Nhà ở xã hội là chương trình nhà ở của Nhà nước được sử dụng nguồn vốn tư nhân hoặc ngân sách để hỗ trợ người dân có thu nhập thấp!

    Nhà ở xã hội bao gồm những căn nhà giá rẻ giành cho người có thu nhập thấp và cho các đối tượng chính sách xã hội như người già, tàn tật, cô đơn không nơi nương tựa hoặc người có công với đất nước đang sống trong hoàn cảnh khó khăn. Nhà ở xã hội có thể là nhà riêng, nhà thuê thuộc sở hữu cá nhân, sở hữu doanh nghiệp hoặc sở hữu cộng đồng và nhà nước

    Mỗi quốc gia có các chương trình nhà ở xã hội khác nhau: Singapore có chương trình phát triển nhà HDB (housing & Development Board) cho mọi người dân chưa có nhà đều có cơ hội đăng ký mua nhà, Hàn Quốc cũng có chương trình tương tự với kế hoạch mua nhà theo thu nhập của người dân, chính sách hỗ trợ cho vay với lãi suất thấp chỉ khoảng 3%/năm.

    Ai là người xây dựng, đầu tư nhà ở xã hội?

    Nhà ở xã hội có 2 hình thức đầu tư bởi công ty tư nhân hoặc được chính quyền tỉnh dùng ngân sách để xây dựng. Tại chúng tôi đa số các dự án đều được các doanh nghiệp địa ốc thực hiện bằng nguồn vốn ngoài ngân sách: Chương Dương Home, River Park Tower quận 9, Green River Quận 8, Ehome S Nam Long…

    Các doanh nghiệp xây dựng và bán nhà ở xã hội với mức giá được UBND tỉnh quy định dưới 15tr/m2. Tuy nhiên, mức giá thực tế của người dân có thể cao hơn do các doanh nghiệp sử dụng các phụ lục hợp đồng bàn giao để tăng giá. Nguyên nhân của việc này do mức lợi nhuận từ đầu tư NOXH là khá thấp và chi phi xây dựng hiện tại đã tăng lên!

    Đối tượng nào được mua nhà ở xã hội?

    Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức. Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp thuộc lực lượng vũ trang nhân dân hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Công nhân làm việc tại khu công nghiệp. Các đối tượng đã trả lại nhà ở công vụ quy định. Học sinh, sinh viên các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng nghề, trung cấp nghề không phân biệt công lập hay dân lập được thuê nhà ở trong thời gian học tập. Người thu nhập thấp tại khu vực đô thị theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

    Đánh giá chất lượng nhà ở xã hội hiện nay

    Có nhiều nghi ngờ về chất lượng nhà ở xã hội hiện nay cửa người dân nhưng cần phải khẳng định về chất lượng xây dựng hiện nay đã có nhiều tiến bộ. Công nghệ thay đổi làm chất lượng xây dựng cũng thay đổi và người dân được hưởng lợi từ điều đó.

    Kết luận lại rằng chất lượng của nhà ở xã hội và nhà ở thương mại đã bằng nhau. Một số dự án khá tốt: Imperial Place của N.H.O, Green River của Ngọc Long. Tuy nhiên, một số chủ đầu tư như Hoàng Quân thì chất lượng còn phải bàn lại và có thể điểm danh tên dự án như 135 Hồ Học Lãm quận Bình Tân.

    Lý do nào khiến nhà ở xã hội lại thấp?

    Các doanh nghiệp thực hiện xây nhà ở xã hội được hưởng các chính sách: đổi đất, giảm thuế đất, thuế vat, thuế thu nhập doanh nghiệp và khống chế mức lợi nhuận nên giá thành của các dự án đều được hạ thấp. Chính vì thế mà người dân mua được với mức giá hợp lý.

    Mua nhà ở xã hội tại chúng tôi như thế nào?

    Để được mua nhà ở xã hội tại chúng tôi thì điều kiện cần là bạn là người thuộc đối tượng được mua nhà ở xã hội như được liệt kê ở trên. Điều kiện đủ để bạn mua nhà ở xã hội là bạn cần 3 điều kiện:

    Thứ 1: Chưa sở hữu nhà ở, đất ở tại chúng tôi Thứ 2: Thu nhập không đóng thuế thu nhập cá nhân thường xuyên. Nếu đã có gia đình, cả vợ và chồng đều phải không đóng thuế thu nhập cá nhân thường xuyên. Thứ 3: Phải có Sổ hộ khẩu, hoặc KT3 hoặc có xác nhận tạm trú trên 1 năm tại chúng tôi Trường hợp không có Sổ hộ khẩu, Khách hàng cần phải có thêm Hợp đồng lao động trên 1 năm, và Xác nhận đang tham gia bảo hiểm xã hội tại chúng tôi trên 1 năm

    Hỗ trợ từ ngân hàng như thế nào?

    Như những năm trước, những căn hộ có giá dưới 1.050 tỷ/căn thì được vay gói 30 nghìn tỷ. Tuy nhiên, hiện nay, các gói hỗ trợ người mua nhà ở xã hội được vay ngân hàng với lãi suất thấp 5% chưa được hướng dẫn cụ thể. Chính vì thế, nếu bạn có nhu cầu muốn vay ngân hàng thì chỉ có thể vay gói thương mại của các ngân hàng hiện nay. Các gói này thường cho vay với tỷ lệ 70% giá trị căn hộ và lãi suất thương mại khoảng 12%/năm. Các gói vay thương mại đều được các ngân hàng cho vay bình thường: BIDV, VIetinbank, BIDV, Agribank, MBbank…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mạng Xã Hội Là Gì Và Mang Những Đặc Điểm Nào?
  • Khách Hàng Mục Tiêu Là Gì? 4 Chiến Lược Marketing Nhắm Đúng Mục Tiêu
  • Dịch Vụ Khách Hàng Là Gì? Đặc Điểm Và Tầm Quan Trọng Của Nó
  • Hành Vi Khách Hàng Là Gì? 5 Bước Nghiên Cứu Hành Vi Khách Hàng.
  • 5 Đặc Điểm Tâm Lý Khách Hàng Thường Gặp Và Cách Xử Lý Phù Hợp
  • Đặc Điểm Dân Cư Xã Hội Châu Á

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Đặc Điểm Cơ Bản, Tình Hình Dân Tộc Ở Việt Nam
  • Đặc Điểm Các Dân Tộc Việt Nam
  • Đôi Nét Về 54 Dân Tộc Việt Nam
  • 4 Đặc Điểm Của Dịch Vụ
  • Phân Tích Đặc Điểm Của Dịch Vụ Và Lấy Ví Dụ Về Một Loại Dịch Vụ Cụ Thể
  • Châu Á là lục địa lớn nhất trên trái đất. Nó chiếm 9% diện tích bề mặt của Trái đất (30% diện tích đất liền), và có đường bờ biển dài nhất là 62.800 km (39.022 mi). Châu Á nói chung được định nghĩa là phần phía đông chiếm 4/5 diện tích của lục địa Á-Âu. Nó nằm ở phía đông của Kênh đào Suez và Dãy núi Ural, và phía nam của Dãy núi Caucasus, Biển Caspi và Biển Đen. Nó tiếp giáp với Thái Bình Dương ở phía đông, với Ấn Độ Dương ở phía nam và Bắc Băng Dương ở phía bắc. Châu Á bao gồm 48 quốc gia, ba trong số đó (Nga, Kazakhstan và Thổ Nhĩ Kỳ) có một phần lãnh thổ ở châu Âu. Thông qua địa hình rộng lớn kèm theo nhiều quốc gia trên trải dài trên khắp lãnh thổ tạo nên đặc điểm dân cư xã hội phong phú và đặc sắc.

    Đặc điểm dân cư xã hội châu Á

    Địa hình của Châu Á

    Châu Á có khí hậu và các đặc điểm địa lý cực kỳ đa dạng. Khí hậu bao gồm từ khí hậu vùng cực ở Siberia đến khí hậu nhiệt đới ở miền nam Ấn Độ và Đông Nam Á. Siberia là một trong những nơi lạnh nhất ở Bắc bán cầu. Nơi hoạt động tích cực nhất trên Trái Đất của lốc xoáy nhiệt đới nằm ở phía đông bắc của Philippines và phía nam Nhật Bản. Sa mạc Gobi ở Mông Cổ và sa mạc Ả Rập trải dài trên phần lớn Trung Đông. Sông Dương Tử ở Trung Quốc là con sông dài nhất ở châu lục này. Dãy Himalaya giữa Nepal và Trung Quốc là dãy núi cao nhất trên thế giới, trong đó có Đỉnh Everest được coi là “nóc nhà của thế giới”. Rừng nhiệt đới trải dài trên nhiều khu vực phía nam châu Á trong khi rừng lá kim và lá rộng nằm xa hơn về phía bắc.

    Châu Á tự nó được phân chia thành các bộ phận khu vực như sau:

    Châu Á, Châu lục đông dân nhất thế giới

    – Châu Á luôn có số dân đứng đầu thế giới.

    – Mức gia tăng dân số châu Á khá cao, chỉ đứng sau châu Phi và cao hơn so với thế giới.

    – Tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên của châu Á ngang với mức trung bình của thế giới, cao hơn châu Âu và thấp hơn nhiều so với châu Phi.

    – Dân số tăng nhanh mật độ dân số không đồng đều.

    – Nhiều nước châu Á như Trung Quốc, Việt Nam, Thái lan… Đang thực hiện chính sách nhằm hạn chế gia tăng dân số. Nhờ đó tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên mới giảm mạnh qua các năm gần đây.

    Tại sao dân cư Châu Á lại đông?

    – Châu Á đông dân vì phần lớn diện tích đất đai thuộc vùng ôn đới, nhiệt đới. Châu Á có các đồng bằng châu thổ rộng lớn, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là trồng lúa. Đại bộ phận các nước kinh tế còn đang phát triển, hoạt động nông nghiệp là chính nên vẫn cần nhiều lao động. Nhiều nước vẫn còn chịu ảnh hưởng của các quan điểm lạc hậu, tư tưởng đông con vẫn còn phổ biến.

    Đặc điểm dân cư châu á thuộc nhiều chủng tộc

    Cư dân châu Á thuộc ba chủng tộc lớn trên thế giới. Đó là: Môn-gô-lô-ít: Bao gồm cư dân sống ở Đông Á, Đông Nam Á, một phần ở Bắc Á và Nội Á.

    Người Môn-gô-lô-ít, hay còn gọi là người da vàng, có đặc điểm chung là lớp lông phủ trên mặt và người ít, tóc đen, thẳng và hơi cứng, da màu vàng hung, mũi hơi thấp, mặt rộng, lưỡng quyền cao và xếp nếp mi mắt rõ. Tổ tiên của họ có lẽ là những cư dân cổ sống ở vùng Nam Siberi và Mông cổ. Người Môn-gô-lô-ít chiếm một tỉ lệ rất lớn trong tổng số dân cư châu Á, và được chia thành hai hay nhiều tiêu chủng tộc khác nhau tạo lên đặc điểm dân cư châu Á phong phú

    Tiểu chủng tộc Môn-gô-lô-ít phương Nam gồm người Nam Trung Quốc và các nước Đông Nam Á. Tiểu chủng tộc được hình thành do sự hòa huyết giữa người Môn-gô-lô-ít với người Nê-grô-ít. Vì thế họ có da màu vàng sậm, cánh mũi rộng, môi hơi dày, tóc làn sóng và hàm hơi vẩu.

    Ơrôpêôít: bao gồm toàn bộ cư dân sống ở vùng Tây Nam Á và một số ở Bắc Ấn Độ, Trung Á và Nội Á. Để phân biệt với người châu Âu, nhóm người này được gọi chung là tiểu chủng tộc Ơ-rô-pê-ô-ít phương Nam. Họ có đặc điểm da ngăm, tóc và mắt đen hơn người phương Bắc, đầu dài, tầm vóc trung bình.

    Nêgrôít: bao gồm cư dân sống ở vùng Nam Ấn Độ, Sri Lanka và một số rải rác ở Indonesia và Malaysia. Nhóm người này chiếm một tỉ lệ không đáng kể trong tổng số dân toàn châu lục.

    Châu Á nơi ra đời các tôn giáo lớn

    Tôn giáo ảnh hưởng trực tiếp đến đặc điểm dân cư xã hội Châu Á.

    Trên thế giới hiện nay có bốn tôn giáo lớn đóng vai trò đáng kể trong lịch sử văn hóa nhân loại. Đó là những tôn giáo xuất hiện từ thời xa xưa ở châu Á. Tại Ấn Độ đã ra đời hai tôn giáo lớn là Ấn Độ giáo và Phật giáo. Ấn Độ giáo ra đời vào thế kỉ đầu của thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên, Phật giáo ra đời vào thế kỉ VI trước Công nguyên. Trên vùng Tây Á, Ki-tô giáo được hình thành từ đầu Công nguyên (tại Pa-le-xtin) và Hồi giáo vào thế kỉ VII sau Công nguyên (tại A-rập Xê-út). Mỗi tôn giáo thờ một hoặc một số vị thần khác nhau. Các tôn giáo đều khuyên răn tín đồ làm việc thiện, tránh điều ác.

    Ấn độ giáo: Ra đời ở Ấn Độ vào khoảng 2500 TCN thờ Đấng tối cao Ba La Môn, phân bố chủ yếu ở Ấn Độ.

    Phật giáo: Ra đời ở Ấn Độ vào thế kỉ VI TCN, thờ Phật Thích Ca, phân bố chủ yếu ở Đông Á và Nam Á

    Ki-tô giáo: Ra đời ở Pa-le-xtin vào đầu công nguyên, thờ chúa Giê Su, chủ yếu ở Philippines.

    Hồi Giáo: Ra đời ở A-rập-Xê-út vào thế kỷ VII sau công nguyên, thờ Thánh A La phân bố chủ yếu ở Nam Á, Malaysia, Indonesia

    --- Bài cũ hơn ---

  • Truyền Thuyết Là Gì, 4 Đặc Trưng Của Truyền Thuyết Lớp 6
  • Những Đặc Điểm Chung Của Truyền Thuyết
  • Đặc Điểm Phát Triển Tư Duy Của Trẻ
  • Tâm Lý Học Đại Cương
  • Tư Duy Và Ứng Dụng Các Đặc Điểm Của Tư Duy Trong Cuộc Sống Và Học Tập
  • Xã Hội Chủ Nghĩa Là Gì? Ưu Điểm Và Nhược Điểm

    --- Bài mới hơn ---

  • Tầm Quan Trọng Của Kỹ Năng Sống Trong Xã Hội Hiện Đại
  • 7 Most Important Social Skills For Kids
  • Lợi Ích Của Việc Thực Hiện Trách Nhiệm Xã Hội Của Doanh Nghiệp – Hỗ Trợ, Tư Vấn, Chắp Bút Luận Án Tiến Sĩ
  • Có Nên Mua Nhà Ở Xã Hội Không?
  • Có Nên Mua Nhà Ở Xã Hội Không: Đừng Bỏ Lỡ Lời Khuyên Này!
  • 3.9

    /

    5

    (

    11

    bình chọn

    )

    Xã hội chủ nghĩa là gì?

    Xã hội chủ nghĩa (XHCN) là một hệ thống kinh tế, ở đây mọi người trong xã hội này đều sở hữu những yếu tố sản xuất. Tuy nhiên quyền sở hữu sẽ cần được mua thông qua một chính phủ được nhân dân bầu cử. Nó cũng có thể là một hợp tác xã hoặc một công ty đại chúng nơi mọi người đều sở hữu cổ phần.

    Bốn yếu tố của sản xuất là:

    • Lao động
    • Tinh thần kinh doanh
    • Tư liệu  sản xuất
    • Tài nguyên thiên nhiên

    Ví dụ về các nhu cầu xã hội lớn hơn bao gồm:

    • Vận chuyển
    • Quốc phòng
    • Giáo dục
    • Chăm sóc sức khỏe
    • Bảo tồn tài nguyên thiên nhiên.

    Một số người cũng xác định lợi ích chung là chăm sóc cho những người không thể trực tiếp đóng góp cho sản xuất. Ví dụ bao gồm người già, trẻ em và người chăm sóc họ.

    Mọi người trong xã hội đều nhận được một phần sản xuất dựa trên số tiền mà mỗi người đã đóng góp. Hệ thống này thúc đẩy họ làm việc nhiều giờ nếu họ muốn nhận thêm. Công nhân nhận được phần sản xuất của họ sau khi phần trăm đã được khấu trừ vì lợi ích chung.

    Các nhà xã hội cho rằng bản chất cơ bản của con người là hợp tác. Họ tin rằng bản chất cơ bản này chưa xuất hiện đầy đủ vì chủ nghĩa tư bản hay chế độ phong kiến ​​đã buộc mọi người phải cạnh tranh.

    Ưu điểm của xã hội chủ nghĩa

    • Dưới chủ nghĩa xã hội, công nhân không còn bị bóc lột vì họ sở hữu tư liệu sản xuất.
    • Lợi nhuận được phân bổ công bằng giữa tất cả các công nhân theo đóng góp cá nhân của họ.
    • Hệ thống hợp tác cũng cung cấp cho những người không thể làm việc. Nó đáp ứng nhu cầu cơ bản của họ vì lợi ích của toàn xã hội.
    • Hệ thống xóa đói giảm nghèo: nó cung cấp quyền truy cập như nhau để chăm sóc sức khỏe và giáo dục, sẽ không ai bị phân biệt đối xử.
    • Tài nguyên thiên nhiên được bảo tồn vì lợi ích của toàn thể.

    Nhược điểm

    • Nhược điểm lớn nhất của chủ nghĩa xã hội là nó dựa vào bản chất hợp tác của con người để làm việc. Nó bỏ qua những người trong xã hội là những người cạnh tranh, không hợp tác. Những người cạnh tranh có xu hướng tìm cách lật đổ và phá vỡ xã hội vì lợi ích của chính họ. Chủ nghĩa tư bản thì cho rằng sự tham lam này là tốt nó giúp cho con người làm việc chăm chỉ hơn để cạnh tranh nhau. Còn ở chủ nghĩa xã hội coi như nó không tồn tại.
    • Kết quả là, chủ nghĩa xã hội không thưởng xứng đáng cho những người được gọi là doanh nhân. Chính vì thế họ đấu tranh vì một xã hội tư bản.
    • Một bất lợi thứ ba là chính phủ có trong tay rất nhiều quyền lực. Chính phủ có thể ban hành các hoạt động miễn là nó đại diện cho mong muốn của người dân. Nhưng các nhà lãnh đạo chính phủ có thể lạm dụng vị trí này và đòi quyền lực cho chính bản thân họ.

    Phân biệt giữa Chủ nghĩa xã hội, Chủ nghĩa tư bản, Chủ nghĩa Cộng sản và Chủ nghĩa phát xít

    Chủ nghĩa xã hội

    • Các yếu tố sản xuất được sở hữu bởi: Tất cả mọi người
    • Các yếu tố sản xuất được định giá cho: Hữu ích cho mọi người
    • Phân bổ quyết định bởi: Kế hoạch trung ương
    • Mục đích: Sự đóng góp

    Chủ nghĩa tư bản

    • Các yếu tố sản xuất được sở hữu bởi: Cá nhân
    • Các yếu tố sản xuất được định giá cho: Lợi nhuận
    • Phân bổ quyết định bởi: Kế hoạch trung ương
    • Mục đích: Sự giàu có

    Cộng sản

    • Các yếu tố sản xuất được sở hữu bởi: Tất cả mọi người
    • Các yếu tố sản xuất được định giá cho: Hữu ích cho mọi người
    • Phân bổ quyết định bởi: Kế hoạch trung ương
    • Mục đích: Đáp ứng nhu cầu

    Chủ nghĩa phát xít

    • Các yếu tố sản xuất được sở hữu bởi: Cá nhân
    • Các yếu tố sản xuất được định giá cho: Xây dựng quốc gia
    • Phân bổ quyết định bởi: Kế hoạch trung ương
    • Mục đích: Giá trị cho quốc gia

    Các nhà xã hội chủ nghĩa coi bất bình đẳng thu nhập là một dấu hiệu của chủ nghĩa tư bản giai đoạn cuối. Họ cho rằng sai sót của chủ nghĩa tư bản có nghĩa là nó đã phát triển vượt quá sự hữu ích của nó đối với xã hội.

    Những người sáng lập của nước Mỹ bao gồm việc thúc đẩy phúc lợi chung trong Hiến pháp để cân bằng những sai sót của chủ nghĩa tư bản. Nó chỉ thị cho chính phủ bảo vệ quyền của tất cả mọi người để theo đuổi ý tưởng hạnh phúc của họ. Đó là vai trò của chính phủ để tạo ra một sân chơi bình đẳng để cho phép điều đó xảy ra.

    Ví dụ về các nước theo xã hội chủ nghĩa

    Không có quốc gia nào là 100% xã hội chủ nghĩa. Hầu hết có  các nền kinh tế hỗn hợp kết hợp chủ nghĩa xã hội với chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa cộng sản hoặc cả hai.

    Các quốc gia sau đây có hệ thống xã hội chủ nghĩa mạnh mẽ, nơi nhà nước cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giáo dục và lương hưu:

    • Na Uy
    • Thụy Điển
    • Đan mạch

    Nhưng những nước này cũng có những nhà tư bản thành công. 1% dân số hàng đầu của mỗi quốc gia nắm giữ hơn 40% tài sản, theo Báo cáo tài sản toàn cầu của Credit Suisse. Đó là vì hầu hết mọi người không cảm thấy cần phải tích lũy của cải kể từ khi chính phủ cung cấp một chất lượng tuyệt vời của cuộc sống.

    Những quốc gia này kết hợp các đặc điểm của cả chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản:

    • Cuba
    • Trung Quốc
    • Việt Nam
    • Nga
    • Bắc Triều Tiên

    Các quốc gia này đều tuyên bố rõ ràng họ là xã hội chủ nghĩa trong hiến pháp của họ. Chính phủ của họ điều hành nền kinh tế của họ. Tất cả đều có các chính phủ được bầu cử dân chủ:

    • Algeria
    • Ăng-gô
    • Bangladesh
    • Guyana
    • Ấn Độ
    • Mozambique
    • Bồ Đào Nha
    • Sri Lanka
    • Tanzania

    Các quốc gia này đều có các khía cạnh quản trị rất mạnh mẽ, từ chăm sóc sức khỏe, truyền thông hoặc các chương trình xã hội do chính phủ điều hành:

    • Bêlarut
    • Nước Lào
    • Syria
    • Turkmenistan
    • Venezuela
    • Zambia

    Nhiều quốc gia khác, như Ireland, Pháp, Anh, Hà Lan, New Zealand và Bỉ có các đảng xã hội chủ nghĩa mạnh mẽ. Chính phủ của họ cung cấp một mức độ hỗ trợ xã hội cao. Nhưng hầu hết các doanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân khiến cho họ về cơ bản là tư bản.

    Nhiều nền kinh tế truyền thống sử dụng chủ nghĩa xã hội, mặc dù nhiều người vẫn sử dụng quyền sở hữu tư nhân.

    Các loại xã hội chủ nghĩa

    Có tám loại chủ nghĩa xã hội, khác nhau về cách chủ nghĩa tư bản có khả năng được biến thành chủ nghĩa xã hội. Họ cũng nhấn mạnh các khía cạnh khác nhau của chủ nghĩa xã hội.

    1. Chủ nghĩa xã hội dân chủ:  Các phương tiện sản xuất được quản lý bởi nhân dân lao động, và có một chính phủ được bầu cử dân chủ. Kế hoạch trung tâm phân phối hàng hóa thông thường, như vận chuyển hàng loạt, nhà ở và năng lượng, trong khi thị trường tự do được phép phân phối hàng tiêu dùng.
    2. Chủ nghĩa xã hội cách mạng: Chủ nghĩa xã hội sẽ chỉ xuất hiện sau khi chủ nghĩa tư bản bị phá hủy. “Không có con đường hòa bình đến chủ nghĩa xã hội.” Các yếu tố sản xuất được sở hữu bởi các công nhân và được quản lý bởi họ thông qua kế hoạch trung tâm.
    3. Chủ nghĩa xã hội tự do: Chủ nghĩa tự do giả định rằng bản chất cơ bản của con người là hợp lý, tự trị và tự quyết. Một khi sự khắt khe của chủ nghĩa tư bản đã được xóa bỏ, mọi người sẽ tự nhiên tìm kiếm một xã hội chủ nghĩa chăm sóc tất cả, không phân cấp kinh tế, chính trị hoặc xã hội. Họ thấy đó là điều tốt nhất cho lợi ích cá nhân của chính họ.
    4. Chủ nghĩa xã hội thị trường:  Sản xuất thuộc sở hữu của người lao động, họ tự quyết định làm thế nào để phân phối lẫn nhau. Họ sẽ bán sản xuất dư thừa trên thị trường tự do. Ngoài ra, nó có thể được chuyển cho xã hội, nơi sẽ phân phối nó theo thị trường tự do.
    5. Chủ nghĩa xã hội xanh: Loại hình kinh tế xã hội chủ nghĩa này đánh giá cao việc duy trì tài nguyên thiên nhiên. Sản xuất tập trung vào việc đảm bảo mọi người đều có đủ những điều cơ bản thay vì các sản phẩm tiêu dùng mà người ta không thực sự cần. Loại nền kinh tế này đảm bảo một mức lương có thể sống được cho mọi người.
    6. Chủ nghĩa xã hội Kitô giáo:  Giáo lý Kitô giáo về tình huynh đệ là những giá trị tương tự được thể hiện bởi chủ nghĩa xã hội.
    7. Chủ nghĩa xã hội không tưởng: Đây là một tầm nhìn về sự bình đẳng hơn là một kế hoạch cụ thể. Nó phát sinh vào đầu thế kỷ 19, trước quá trình công nghiệp hóa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Sự Cần Thiết Và Xu Hướng Xã Hội Hóa Dịch Vụ Công, Liên Hệ Thực Tiễn
  • Hiệu Quả Công Tác Xã Hội Hóa Giáo Dục
  • Câu 6: Xã Hội Hóa Giáo Dục
  • Xã Hội Hóa Giáo Dục Là Gì? Khái Niệm Và Lợi Ích Khi Áp Dụng
  • Lợi Thế Của Website Trong Kinh Doanh Giúp Bạn Làm Giàu
  • Các Đặc Điểm Của Phương Pháp Xã Hội Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Đặc Điểm Hoạt Động Sản Xuất Kinh Doanh Của Các Doanh Nghiệp Xây Lắp Mà Bạn Không Thể Bỏ Qua
  • Bài Tập Trắc Nghiệm Giáo Dục Công Dân Lớp 11: Nền Dân Chủ Xã Hội
  • Câu 8_ Trình Bày Những Đặc Trưng Cơ Bản Của Nền Dân Chủ Xhcn. Liên Hệ Với Thực Tiễn Ở Việt Nam.
  • Trắc Nghiệm Gdcd 11, Bài 10: Nền Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Xây Dựng Nền Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa
  • CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA PHƯƠNG PHÁP XÃ HỘI HỌC

    ÉMILE DURKHEIM (1858-1917)

    Toàn văn bài này là phần Kết luận cuốn sách Các quy tắc của phương pháp xã hội học của Émile Durkheim. Bản dịch tiếng Việt cuốn sách này do Nhà xuất bản Tri thức ấn hành năm 2012.

    Nói tóm lại, phương pháp xã hội học có những đặc điểm sau.

    Trước hết, nó độc lập với mọi thứ triết học. Vì bộ môn xã hội học đã được sinh ra từ các học thuyết triết học lớn, nên nó có thói quen là dựa vào hệ thống nào đó, và vì thế nhận thấy mình có mối liên đới với hệ thống ấy. Do đó, nó lần lượt là môn xã hội học thực chứng, môn xã hội học tiến hóa, môn xã hội học duy linh, khi mà nó buộc phải bằng lòng chỉ ngắn gọn là môn xã hội học thôi. Ngay cả khi chúng tôi do dự gọi nó là cá nhân chủ nghĩa, cộng đồng chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa theo nghĩa mà người ta thường gán cho các từ này. Về nguyên tắc, nó sẽ không bỏ qua các lý thuyết ấy, vốn là những lý thuyết mà nó không thể thừa nhận là có giá trị khoa học, vì chúng trực tiếp hướng đến việc tổ chức lại các sự kiện chứ không phải diễn tả các sự kiện. Ít ra, nếu xã hội học quan tâm đến các lý thuyết ấy, đó là vì bao lâu nó còn thấy ở chúng các sự kiện xã hội có thể giúp nó hiểu được thực tại xã hội trong việc làm bộc lộ ra những nhu cầu đang tác động đến xã hội. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là bộ môn xã hội học không cần phải quan tâm đến các vấn đề thực tiễn. Trái lại, ta có thể thấy rằng mối bận tâm thường xuyên của chúng ta là hướng nó đến một kết quả thực tiễn nào đó. Nó tất yếu sẽ bắt gặp các vấn đề ấy vào cuối giai đoạn nghiên cứu của nó. Nhưng chính vì thế mà các vấn đề đó chỉ được bộc lộ ra cho nó vào lúc đó, và, vì thế, như là những sự vật xã hội. Đặc trưng thứ ba của phương pháp của chúng tôi đó là phương pháp ấy chỉ có mỗi ở môn xã hội học mà thôi. Thường thì, có vẻ như các hiện tượng ấy, do tính hết sức phức tạp của chúng, hoặc là ương ngạnh trước khoa học, hoặc chúng chỉ có thể đi vào khoa học nếu được quy về những điều kiện sơ đẳng của chúng, – hoặc điều kiện tâm lý hoặc điều kiện hữu cơ – nghĩa là bị tước mất bản tính riêng của chúng. Trái lại, chúng tôi đã gánh lấy việc xác lập rằng ta có thể xử lý chúng một cách khoa học mà không làm mất đi các đặc điểm riêng của chúng. Thậm chí, chúng tôi từ chối không đưa tính phi vật chất sui generis làm đặc trưng cho chúng về với tính phi vật chất, lại càng phức tạp hơn nữa, của các hiện tượng tâm lý học; huống hồ chi chúng tôi tự nghiêm cấm mình không hòa tan nó, như trường phái Italia đã làm, vào các thuộc tính phổ biến của vật chất được tổ chức . Chúng tôi đã cho thấy rằng một sự kiện xã hội chỉ có thể được giải thích bằng một sự kiện xã hội khác, và đồng thời, chúng tôi đã cho thấy làm thế nào loại giải thích ấy có thể có được bằng cách chỉ ra cái động lực chính của sự tiến hóa tập thể ở bên trong môi trường xã hội. Vì thế, xã hội học không phải là phần phụ thêm vào của bất cứ bộ môn khoa học nào khác; bản thân nó là một môn khoa học riêng biệt và tự trị, và ý thức về việc thực tại xã hội có cái gì đó đặc biệt thậm chí còn cần thiết đối với nhà xã hội học đến mức chỉ có sự đào luyện xã hội học một cách chuyên biệt mới có thể chuẩn bị cho ông ta sức hiểu về các sự kiện xã hội.

    Chúng tôi cho rằng sự tiến bộ này là quan trọng nhất trong tất cả những sự tiến bộ còn phải làm trong xã hội học. Chắc chắn là, khi một môn khoa học đang trong quá trình hình thành, để xây dựng nó, người ta buộc phải dựa vào chỉ mỗi những mô hình nào đang tồn tại, nghĩa là vào các môn khoa học đã được hình thành trước đó rồi. Ở đó có một kho tàng các kinh nghiệm được làm sẵn, thành thử thật là dại dột nếu ta không khai thác nó. Tuy nhiên, một môn khoa học chỉ có thể được xem là đã được cấu tạo một cách dứt điểm khi nó đạt đến chỗ tự tạo cho mình một vị thế độc lập (personnalité indépendante). Bởi vì nó chỉ có lý do tồn tại nếu chất liệu của nó là một loại sự kiện mà các môn khoa học khác không nghiên cứu. Nhưng việc những ý niệm như thế có thể hoàn toàn hợp với các sự vật có bản tính khác là điều không thể.

    Đối với chúng tôi, đó là những nguyên tắc của phương pháp xã hội học.

    Tập hợp các quy tắc ấy có thể sẽ xuất hiện ra là đã bị phức tạp hóa một cách vô ích, nếu ta so sánh nó với những thao tác phương pháp thường được sử dụng. Toàn bộ cơ chế thận trọng ấy có thể tỏ ra rất khó nhọc đối với một môn khoa học, mà cho tới nay, chỉ đòi hỏi những ai phụng sự nó phải được đào luyện về đam mê và thành kiến phải câm lại. Chắc chắn là, thời gian vẫn còn dài, khi đó nó có thể sẽ giữ vai trò này một cách hữu hiệu; tuy nhiên, để cho nó đủ khả năng làm tròn vai trò ấy vào một ngày nào đó, thì chúng ta phải làm ngay từ bây giờ.

    ĐINH HỒNG PHÚC dịch

    Nguồn: Émile Durkheim. Các quy tắc của phương pháp xã hội học. Đinh Hồng Phúc dịch. Hà Nội: Nxb. Tri thức, 2012, trang 305-14. Bản đăng trên chúng tôi có sự cho phép của Nhà xuất bản Tri thức.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lĩnh Vực Hành Động Của Xã Hội Học Là Gì? Đặc Điểm Chính / Văn Hóa Chung
  • Xã Hội Học Là Gì? Đặc Điểm, Mục Tiêu Và Phương Pháp / Tâm Lý Xã Hội Và Các Mối Quan Hệ Cá Nhân
  • Hệ Điều Hành Windows Là Gì? Các Phiên Bản Của Windows Từ Trước Đến Nay
  • Lịch Sử Về Hệ Điều Hành Windows Xp, 8, 7, 10 Của Microsoft
  • Hệ Điều Hành Windows Là Gì? Ưu Và Khuyết Điểm
  • Xã Hội Học Là Gì? Đặc Điểm, Mục Tiêu Và Phương Pháp / Tâm Lý Xã Hội Và Các Mối Quan Hệ Cá Nhân

    --- Bài mới hơn ---

  • Lĩnh Vực Hành Động Của Xã Hội Học Là Gì? Đặc Điểm Chính / Văn Hóa Chung
  • Các Đặc Điểm Của Phương Pháp Xã Hội Học
  • Đặc Điểm Hoạt Động Sản Xuất Kinh Doanh Của Các Doanh Nghiệp Xây Lắp Mà Bạn Không Thể Bỏ Qua
  • Bài Tập Trắc Nghiệm Giáo Dục Công Dân Lớp 11: Nền Dân Chủ Xã Hội
  • Câu 8_ Trình Bày Những Đặc Trưng Cơ Bản Của Nền Dân Chủ Xhcn. Liên Hệ Với Thực Tiễn Ở Việt Nam.
  • Xã hội học là gì và nó được sử dụng để làm gì??

    Xã hội học góp phần áp dụng các phương pháp đo định lượng trong sự có của các nhóm và cấu trúc xã hội nhất định, và giúp chúng ta hiểu được năng lực, sự tương tác và sức khỏe tinh thần ở cả cấp độ nhóm và ở từng thành viên..

    Phương pháp này được thiết kế bởi nhà tâm lý học và nhà trị liệu Jacob Levy Moreno. Kể từ khi thành lập, xã hội học đã là một công cụ rất có giá trị khi đánh giá và đo lường sự tương tác giữa các thành phần của các nhóm khác nhau, ví dụ như trong các lĩnh vực học thuật, giáo dục, lao động hoặc thể thao..

    Phương pháp xã hội học sử dụng một số tài nguyên phương pháp luận theo phương pháp định lượng, ví dụ: bảng câu hỏi và khảo sát, thuộc về phổ của các phương pháp kiểm tra xã hội học.

    Lịch sử xã hội học

    Xã hội học ra đời vào đầu thế kỷ 20 tại Hoa Kỳ, nơi Jacob Levy Moreno cư trú. Khái niệm mới này đã tạo ra các phương pháp làm cho xã hội học trở thành một kỹ thuật có khả năng nghiên cứu, chẩn đoán và dự đoán động lực của tương tác nhóm và xã hội, cả trong các nhóm ít thành viên và trong bối cảnh xã hội phức tạp và quy mô hơn nhiều.

    Ảnh hưởng của Jacob Levy Moreno

    Bác sĩ tâm thần người Vienna và sinh viên của Sigmund Freud đã có liên hệ đầu tiên với nghiên cứu xã hội học khi ông hợp tác trong việc tổ chức một thuộc địa tị nạn ở nước mình. Do đó, trước tiên biết được những vấn đề khác nhau nảy sinh trong các nhóm người, Moreno đã cố gắng tổ chức các nhóm này và các thành viên của họ thông qua một kế hoạch xã hội học.

    Từ năm 1925, Jacob Levy Moreno chuyển đến New York và trong bối cảnh đó, ông đã phát triển một cơ sở lý thuyết vững chắc cho phương pháp xã hội học của mình. Anh ta đã thử nghiệm phương pháp của mình trên quy mô lớn trong nhà tù Sing-Sing, tại thành phố nơi anh ta cư trú. Thử nghiệm này sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn chi tiết hơn nhiều về nhiều biến số ảnh hưởng đến mối quan hệ cá nhân giữa các nhóm khác nhau trong một bối cảnh vật lý cụ thể.

    Với dữ liệu thu thập được và sử dụng kinh nghiệm tốt nhất của mình, ông đã tinh chỉnh phương pháp và phát triển một phiên bản xã hội học bóng bẩy hơn, một hình thức trực quan dưới dạng sơ đồ cho phép nghiên cứu mối quan hệ tốt hay xấu giữa các cá nhân trong bối cảnh của một nhóm lớn hơn..

    Từ thời điểm đó, Moreno sẽ công khai các xã hội học của mình trong cộng đồng khoa học và khoa học Mỹ. Phương pháp của ông được đánh giá theo một cách rất tích cực, và trở thành một phần của các công cụ được sử dụng và hiệu quả nhất tại thời điểm bắt đầu các phân tích định lượng và tâm lý xã hội.

    Năm năm sau bản thảo đầu tiên của ông, đã ngoài ba mươi, Jacob Levy Moreno đã xuất bản một tác phẩm về các mối quan hệ giữa các cá nhân mà cuối cùng sẽ đặt nền móng của xã hội học. Chính từ thời điểm đó, phương pháp được tạo ra bởi Moreno trải qua một sự bùng nổ và được áp dụng trong nhiều bối cảnh và dự án. Trên thực tế, ông thậm chí còn có tạp chí học thuật chuyên ngành của riêng mình từ năm 1936. Ngoài ra, Viện Xã hội học ở New York, sau đổi tên thành Việnuto Moreno, được thành lập để vinh danh Jacob Levy.

    Mục tiêu của xã hội học

    Xã hội học theo đuổi các mục tiêu khác nhau và có cách sử dụng khác nhau. Theo chính Jacob Levy Moreno, các mục tiêu chính của xã hội học là như sau:

    • Đánh giá mức độ cảm thông mà một người thức tỉnh trong một nhóm người.
    • Tìm hiểu sâu hơn lý do tại sao điều này là như vậy.
    • Phân tích mức độ gắn kết giữa các thành phần khác nhau của cùng một nhóm.

    1. Phát hiện những người bị từ chối

    Một trong những mục tiêu của xã hội học là phát hiện và phân loại những cá nhân bị từ chối nhiều hơn bởi các thành phần khác của nhóm. Tương tự, nó cũng xử lý các trường hợp ngược lại: xác định và phân loại những cá nhân được đánh giá cao nhất bởi những người còn lại.

    Theo cách này, mục tiêu là làm việc với người trước để thúc đẩy các kỹ năng xã hội của họ và tăng cường giao tiếp và quan hệ với những người còn lại, trong khi với giá trị nhất, năng lực lãnh đạo của họ có thể được nâng cao..

    2. Phát hiện người bị cô lập

    Một mục tiêu khác của xã hội học là phát hiện những người cho rằng mình bị cô lập hoặc cô lập khỏi nhóm. Làm thế nào được đo lường này? Họ là những cá nhân không tạo ra ảnh hưởng, tích cực hay tiêu cực, trong các động lực và mối quan hệ trong nhóm.

    3. Phân tích tính năng động của nhóm

    Một cơ hội khác mà nó cung cấp cho chúng tôi để có thể thấy trước, sau khi nghiên cứu động lực của nhóm, Làm thế nào nó sẽ phản ứng và thích ứng với những thay đổi nhất định, chẳng hạn như bao gồm các cá nhân mới hoặc sự ra đi của người khác.

    Ba mục tiêu này có thể được tìm thấy bằng xã hội học trong bối cảnh giáo dục và chuyên nghiệp, đó là hai nhóm được phân tích phổ biến nhất bằng kỹ thuật này.

    Phương pháp xã hội học hoạt động như thế nào?

    Phương pháp xã hội học được phát triển bởi Jacob Levy Moreno thường được sử dụng trong bối cảnh giáo dục. Nó được sử dụng để có nhiều dữ liệu và các yếu tố phân tích về mức độ tương tác, sự cảm thông / ác cảm và sự gắn kết giữa các đồng nghiệp. Nó cũng phục vụ để phát hiện các mô hình tích cực nhất định hoặc bất đồng có thể tồn tại giữa một số thành viên này và cách các động lực này ảnh hưởng đến nhóm.

    Các chức năng cơ bản của xã hội học về cơ bản là hai: thứ nhất, xác định các mối quan hệ cá nhân trong một nhóm. Cần lưu ý rằng xã hội học hiếm khi giải quyết việc nghiên cứu các nhóm lớn, để đảm bảo rằng các biến trong trò chơi có thể được xác định rõ. Đã phát hiện các mô hình hành vi trong nhóm, phương pháp được áp dụng, thông qua kiểm tra xã hội học.

    Bài kiểm tra xã hội học là một bảng câu hỏi phải được hoàn thành bởi mỗi thành viên của nhóm đã được phân tích. Nó phải được quản lý mà không ảnh hưởng hoặc gây áp lực cho những người tham gia. Bài kiểm tra đề xuất các kịch bản khác nhau và cho phép người tham gia tự do lựa chọn thành viên nào khác muốn thành lập một nhóm nhỏ và lý do của họ. Theo cách này và thông qua các câu trả lời của từng thành viên, bạn có thể tìm hiểu tận mắt sự năng động trong nhóm và lý do tại sao mỗi người tham gia có sự đánh giá cao hơn hoặc ít hơn đối với các cá nhân khác.

    Cuối cùng, phương pháp được sử dụng để đưa ra dự báo. Đó là, nó có thể giúp hình dung các động lực thích hợp và hiệu quả nhất để giải quyết căng thẳng giữa những người tham gia và kích thích các động lực tốt đã được phát hiện trong quá khứ..

    • Forselledo, A. G. (2010). Giới thiệu về xã hội học và các ứng dụng của nó. Montevideo: Đại học nghiên cứu cao hơn.
    • Jennings, H.H. (1987) Xã hội học trong quan hệ nhóm. Tái bản lần 2 Westport: Gỗ xanh.
    • Moreno, J. L. (1951). Xã hội học, Phương pháp thí nghiệm và Khoa học xã hội: Cách tiếp cận một định hướng chính trị mới. Nhà Beacon.
    • Trang, J. 1988/9. Giáo dục và Acculturation ở Malaita: Một dân tộc học về mối quan hệ giữa các sắc tộc và liên sắc tộc. Tạp chí nghiên cứu liên văn hóa. 15/16: 74-81. Trực tuyến: http://eprints.qut.edu.au/3566/

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hệ Điều Hành Windows Là Gì? Các Phiên Bản Của Windows Từ Trước Đến Nay
  • Lịch Sử Về Hệ Điều Hành Windows Xp, 8, 7, 10 Của Microsoft
  • Hệ Điều Hành Windows Là Gì? Ưu Và Khuyết Điểm
  • Hệ Điều Hành Windows Là Gì: Đặc Điểm, Ưu Nhược Điểm, Bản
  • Gỗ Nu Găng Bầu Là Gì, Đặc Điểm Sinh Thái Và Ứng Dụng Của Gỗ Nu Găng Bầu
  • Lĩnh Vực Hành Động Của Xã Hội Học Là Gì? Đặc Điểm Chính / Văn Hóa Chung

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Đặc Điểm Của Phương Pháp Xã Hội Học
  • Đặc Điểm Hoạt Động Sản Xuất Kinh Doanh Của Các Doanh Nghiệp Xây Lắp Mà Bạn Không Thể Bỏ Qua
  • Bài Tập Trắc Nghiệm Giáo Dục Công Dân Lớp 11: Nền Dân Chủ Xã Hội
  • Câu 8_ Trình Bày Những Đặc Trưng Cơ Bản Của Nền Dân Chủ Xhcn. Liên Hệ Với Thực Tiễn Ở Việt Nam.
  • Trắc Nghiệm Gdcd 11, Bài 10: Nền Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa
  • các lĩnh vực hành động của xã hội học Nó bao gồm tất cả các đơn đặt hàng của đời sống xã hội. Một nhà xã hội học có thể hoạt động như một giáo viên, nhà nghiên cứu, nhà phân tích, nhà tư vấn, quản lý dự án và bất kỳ lĩnh vực nào của tác động xã hội, kinh tế xã hội, văn hóa xã hội và tổ chức.

    Nó cũng có thể được thực hiện trong các cơ quan công cộng như thành phố, bộ, hành chính công (đặc biệt là trong lĩnh vực y tế, dịch vụ xã hội, giáo dục, lao động và tư pháp), trong các công ty tư nhân (như một nhà tư vấn hoặc trong bộ phận nhân sự) và trong phạm vi quốc tế (trong các cơ quan hoặc tổ chức nghiên cứu hoặc tư vấn).

    Xã hội học nghiên cứu con người trong môi trường xã hội, văn hóa, đất nước, thành phố và tầng lớp xã hội, trong số các khía cạnh khác.

    Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu xã hội học bao gồm từ các nhóm lớn của xã hội đến các đơn vị quan sát nhỏ.

    Nó không nghiên cứu xã hội như là tổng của các cá nhân, mà là nhiều tương tác của các cá nhân đó.

    Nghiên cứu này được thực hiện thông qua các phương pháp nghiên cứu có hệ thống cho phép đo lường, định lượng và xác minh các tương tác này.

    Năm lĩnh vực hành động của xã hội học

    1- Xã hội học đô thị

    Đó là nghiên cứu về đời sống xã hội và sự tương tác của con người ở các khu vực đô thị. Đó là một quy tắc quy phạm cố gắng nghiên cứu các cấu trúc, quy trình, thay đổi và các vấn đề của một khu vực đô thị.

    Từ những nghiên cứu này, xã hội học cung cấp đầu vào cho quy hoạch đô thị và thiết kế tiếp theo của các chính sách sẽ được áp dụng.

    2- Xã hội học giáo dục

    Đây là một nhánh của xã hội học hỗ trợ sư phạm, thực hành giáo dục và tất cả những người tham gia vào quá trình giáo dục.

    Đó là một ngành học sử dụng các khái niệm, mô hình và lý thuyết mà xã hội học cung cấp để hiểu giáo dục trong khía cạnh xã hội của nó.

    3- Xã hội học công việc

    Xã hội học công việc được thành lập bởi các chuyên gia Pháp sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Đối tượng nghiên cứu là lĩnh vực công việc, vấn đề lao động xã hội.

    Ông nghiên cứu công việc như một thực tiễn xã hội thông qua các quyết định kinh tế, lao động xã hội, tâm lý và văn hóa của mình. Ông cũng nghiên cứu công việc như là mối quan hệ giữa các tầng lớp xã hội.

    4- Xã hội học nông thôn

    Đó là lĩnh vực xã hội học nghiên cứu đời sống xã hội ở nông thôn. Nghiên cứu với cơ sở khoa học hoạt động và hành vi của những người sống xa các trung tâm đô thị lớn và hoạt động kinh tế.

    Nó bao gồm phân tích dữ liệu thống kê, lý thuyết xã hội, quan sát và nghiên cứu, trong số những người khác. Nghiên cứu sự tương tác giữa nông dân, tiểu chủ, đồng chí hoặc bất kỳ nhân vật nào khác, trong hội nhập kinh tế và xã hội của họ.

    Xã hội học tìm cách nghiên cứu cách đáp ứng nhu cầu cơ bản của họ, cá nhân hoặc trong đời sống xã hội của họ.

    5- Xã hội học chính trị

    Nghiên cứu mối quan hệ giữa con người, xã hội và Nhà nước. Xem xét mối quan hệ giữa xã hội và chính trị, và điều tra các thủ tục phải tuân thủ để thúc đẩy sự phát triển của một xã hội một cách thành công.

    Tài liệu tham khảo

    1. “Lĩnh vực hành động của các nhà xã hội học” trong Sociologiag 35 (tháng 8 năm 2014). Truy cập vào tháng 10 năm 2021 từ Sociologiag 35 trong: sociologiag35.wordpss.com
    2. “Các lĩnh vực xã hội học” trong Khái niệm và mục tiêu của xã hội học. Được phục hồi vào tháng 10 năm 2021 về Khái niệm và mục tiêu của xã hội học tại: janylizy.blogspot.com.ar
    3. “Xã hội học-Giới thiệu về khoa học xã hội” tại Cibertareas (tháng 9 năm 2014). Được phục hồi vào tháng 10 năm 2021 của Cibertareas tại: cibertareas.info
    4. “Các lĩnh vực xã hội học” trên Sl slideshoware. Truy cập vào tháng 10 năm 2021 từ Sl slideshoware trên: chúng tôi slideshoware.net
    5. “Lĩnh vực xã hội học” trong Scribd
    6. “Lĩnh vực xã hội học hành động” tại Đại học Orienta (tháng 2 năm 2012). Truy cập vào tháng 10 năm 2021 từ Orienta Universia tại: directionacion.universia.net.co

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xã Hội Học Là Gì? Đặc Điểm, Mục Tiêu Và Phương Pháp / Tâm Lý Xã Hội Và Các Mối Quan Hệ Cá Nhân
  • Hệ Điều Hành Windows Là Gì? Các Phiên Bản Của Windows Từ Trước Đến Nay
  • Lịch Sử Về Hệ Điều Hành Windows Xp, 8, 7, 10 Của Microsoft
  • Hệ Điều Hành Windows Là Gì? Ưu Và Khuyết Điểm
  • Hệ Điều Hành Windows Là Gì: Đặc Điểm, Ưu Nhược Điểm, Bản
  • Chính Sách Xã Hội Là Gì? Tại Sao Xã Hội Cần Chính Sách Xã Hội?

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Chính Sách Xã Hội, Chức Năng Của Chính Sách Xã Hội
  • Chức Năng Của Nhà Nước Là Gì ? Cách Phân Loại Chức Năng Của Nhà Nước ?
  • Đổi Mới Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước
  • Chức Năng Của Văn Học Là Gì?
  • Chức Năng Của Văn Học
  • Việc làm Công chức – Viên chức

    1. Khái niệm chính sách xã hội là gì “chuẩn nhất”

    Chính sách xã hội là một dạng chính sách được nhà nước ban hành nhằm cung cấp cho người dân những dịch vụ xã hội tốt nhất và các chính sách xã hội nhằm hỗ trợ cho các đối tượng khó khăn của xã hội. Chính sách xã hội là biện pháp được đưa ra bởi đảng và nhà nước nhằm hỗ trợ cho các đối tượng chính sách của xã hội, và phục vụ cho lợi ích chung của xã hội.

    Bạn có thể định nghĩa chính sách xã hội là gì không? Chính sách xã hội được hiểu đơn giản nó là tổng hợp của các phương thức, các biện pháp được các tổ chức chính trị, Đảng và nhà nước đưa ra với mục đích nhằm thỏa mãn cho nhu cầu vật chất và tinh thần của toàn bộ người dân và các chính sách đưa ra phải phù hợp với sự phát triển kinh tế của đất nước, sử phát triển văn hóa và xã hội của đất nước. Thông qua việc đưa ra các pháp luật hay các quy định do nhà nước ban hành để người dân phải thực hiện theo những hướng chính sách đó của nhà nước giúp đất nước phát triển với hướng đi đúng đắn.

    Hiện này chính sách ở nước ta có 2 cấp độ khác nhau đang hiện hành đó là:

    + Chính sách xã hội được bạn hành cho những người lao động trong xã hội và nhóm đối tượng này thường được gọi là đối tượng chính sách và đối tượng xã hội.

    + Chính sách về giai cấp là chính sách cho các tầng lớp trong xã hội hiện nay, với các nhóm xã hội cụ thể như: Tầng lớp thanh niên, tang lớp tri thức, chính sách về dân tộc, chính sách tôn giáo.

    Chính sách xã hội là các chính sách được ban hành bởi nhà nước nhằm ổn định xã hội thông qua những tác động cụ thể đến các đối tượng khác nhau và được phân theo nhóm để hưởng các chính sách xã hội mà nhà nước ban hành.

    2. Chức năng khi đưa ra các chính sách xã hội là gì?

    Chức năng của chính sách xã hội cần bao gồm những chức năng sau:

    + Ổn định xã hội, thông qua các chính sách khác nhau cho các tầng lớp để giám bới hoặc rút ngắn khoảng cách giàu nghèo. Đem đến cho người dân những điều kiện để cùng được tiếp cận với các dịch vụ cơ bản của một con người được hưởng.

    + Đảm bảo sự an sinh xã hội khi các chính sách được bạn hành cho các nhóm đối tượng cụ thể. Thông qua việc xác định các nhóm đối tượng để đưa ra được chính sách xã hội phù hợp với nhóm đối tượng đó. Đảm bảo tất cả người dân có một cuộc sống tốt đẹp hơn trong sự phát triển chung của xã hội.

    + Giúp người dân có được được những ưu đãi với những đối tượng có hoàn cảnh khó khăn, giúp họ nhanh chóng và có điều kiện để hoàn nhập và được hưởng các dịch vụ xã hội tốt hơn cho chính họ và gia đình họ

    + Thông qua việc nghiên cứu về chính sách xã hội giúp dực báo về tình hình xã hội cho các cấp quản lý và lãnh đạo, từ đó đưa ra được các chính sách thiết thực nhất với người dân, và hỗ trợ tốt nhất giúp an ninh xã hội.

    + Chính sách xã hội của một quốc gia càng hoàn thiện càng đánh giá được rằng quốc gia đó có sự phát triển đồng đều về kinh tế và xã hội.

    + Chính sách xã hội có vai trò quan trọng trong việc phát triển bền vững xã hội qua từng giai đoạn cụ thể phát triển của đất nước. Chính sách xã hội đi song song với chính sách kinh tế để hỗ trợ tốt nhất cho con người và phát triển đồng bộ đất nước.

    * Các vấn đề về chính sách xã hội cần quan tâm là gì?

    Bạn có biết vấn đề chính sách xã hội là gì và vấn đề nào cần được quan tâm và đưa ra các chính sách trong xã hội hiện nay? Vấn đề trong chính sách xã hội cần được quan tâm và đề cao. Thông qua việc đưa ra các vấn đề trong chính sách xã hội sẽ biết được là đối tượng nào cần được tác động và đối tượng nào cần có sự hỗ trợ của chính sách xã hội, và xã hội đang gặp vấn đề gì mà cần có sự giải quyết bởi các chính sách xã hội để đưa đất nước phát triển. Các vấn đề mà chính sách xã hội cần hướng đến hiện nay là:

    + Các chính sách với người có công và các đối tượng khó khăn trong xã hội

    + Đưa ra được các chính sách xã hội về an sinh xã hội phù hợp với trình độ phát triển kinh tế của đất nước.

    + Nâng cao đời sống tinh thần và vật chất của người dân trong xã hội, đặc biệt là người có công với đất nước.

    + Đa dạng hệ thống an sinh xã hội để thực hiện chức năng toàn diện nhất và đa dạng nhất. Đảm bảo sự phát triển đất nước bền vững của một quốc gia và sự công bằng của các tầng lớp trong xã hội.

    + Tạo điều kiện cho người dân có khả năng tự nâng cao khả năng tự đảm bảo an sinh xã hội cho mình và cho xã hội.

    3. Những đối tượng được hưởng chính sách xã hội

    Đối tượng chính sách là gì? Đối tượng chính sách bạn có thể hiểu đơn giản là các đối tượng thường thuộc nhóm những người lao động và có hoàn cảnh khó khăn có thể do kinh tế hoặc do các điều kiện tự nhiên bên ngoài, hoặc khó khăn từ chính bản thân họ. Những đối tượng này được hưởng chính sách xã hội từ nhà nước nằm hỗ trợ họ và giúp họ có được quyền lợi bình đẳng với các giai cấp xã hội khác trong xã hội, tăng khả năng tiếp cận với các thông tin, và dịch vụ xã hội tốt hơn.

    Hiện nay ở nước ta có các đối tượng chính sách cụ thể như sau:

    + Người dân tộc thiểu số tại nước ta

    + Công dân ưu tú trong sản xuất trực tiếp với 5 năm lao động và nhận được liên tục và trong đó cần có 2 năm là chiến sĩ thi đưa được tỉnh, thành phố, bộ công nhận và có cấp bằng khen.

    + Thương binh, bệnh binh, quân nhân, công an nhân dân tại ngũ được cử đi học, hoặc đã hoàn thành nghĩa vụ từ 12 tháng trở lên và hiện đã xuất ngũ tại khu vực 1.

    + Con thương binh, liệt sĩ, con bệnh binh, con bà mẹ Việt Nam anh hùng, con của thương binh mất sức lao động trên 81%, con của anh hùng lực lượng vũ trang, anh hùng lao động.

    + Quân nhân, công an nhân dân được cử đi học hoặc quan nhân, công an đã hoàn thành nghĩa vụ từ trên 24 tháng và hiện nay đã xuất ngũ.

    Nhiều người sẽ thắc mắc và nghe rất nhiều đến hộ chinh sách. Vậy hộ chính sách xã hội là gì bạn có thể định nghĩa không? Hộ chính sách là nói đến hộ gia đình thuộc diện được hưởng các chính sách xã hội hiện nay như:

    + Hộ gia đình là người dân tộc thiểu số

    + Hộ gia đình có người là thương binh bệnh binh hay có công với cách mạng

    + Hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi chất độc da cam do chiến tranh để lại

    Còn nhiều các họ gia đình trong xã hội thuộc vào diện được hưởng các chính sách xã hội của nhà nước nhằm giúp đỡ và hỗ trợ hộ phần nào đó về an sinh xã hội và có cơ hội để được tiếp cận thông tin và dịch vụ tốt hơn cho họ.

    4. Một số các chính sách xã hội hiện nay tại Việt Nam

    Các chính sách xã hội hiện nay đang được thực hiện ở nước ta bao gồm những chính sách sách sau:

    + Chính sách với người có công, đưa ra các chính sách ưu đãi và phù hợp với họ nhằm giúp họ tiếp cận được các dịch vụ cơ bản như y tế, giáo dục, đào tạo, và tạo điều kiện để phát triển kinh tế và việc làm cho họ. Qua đó giúp họ ổn định cuộc sống và phát triển hơn về kinh tế của hộ gia đình.

    + Cách chính sách về an ninh xã hội như: Các chính sách về việc làm, chính sách về thu nhập, chính sách giảm thiệu nghèo trên cả nước, chính sách về bảo hiểm xã hội, chính sách trợ giúp những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, chính sách về các dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân (đảm bảo giáo dục tối thiểu, y tế tối thiểu, nước sách, thông tin).

    Ngân hàng chính sách xã hội hiện nay ở nước ta có những chương trình chính sách sau:

    + Cho sinh viên có hoàn cảnh khó khăn.

    + Cho vay hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở, nhà ở kiên cố

    + Cho vay với hộ cận nghèo để phát triển kinh tế

    + Hỗ trợ cho vay tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm

    + Cho vay để hỗ trợ công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm với người lao động bị thu hồi đất

    + Cho vay để cải tạo nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn

    Còn rất nhiều các chương trình cho vay để hỗ trợ người dân trong việc phát triển kinh tế và ổn định cuộc sống của mình.

    Qua những chia sẻ trên về “chính sách xã hội là gì?”, hy vọng qua những chia sẻ này sẽ giúp bạn hiểu và có thêm được phần nào đó kiến thức cho bản thân về chính sách xã hội hiện nay.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Của Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Và Một Số Nhiệm Vụ Cơ Bản Thể Hiện Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Ta
  • Làm Thế Nào Để Sử Dụng Phanh Tay Điện Tử Và Auto Hold Trên Mitsubishi Outlander
  • Phục Hồi Chức Năng Là Gì ?
  • Phục Hồi Chức Năng Là Gì? Những Bệnh Gì Cần Phục Hồi Chức Năng?
  • Các Bệnh Cần Phục Hồi Chức Năng
  • Hợp Tác Xã Là Gì? Đặc Điểm, Ưu Và Nhược Điểm Của Hợp Tác Xã?

    --- Bài mới hơn ---

  • Đặc Điểm Của Hợp Tác Xã Là Gì Theo Quy Định Của Pháp Luật?
  • Khái Niệm, Đặc Điểm, Ưu Nhược Điểm Của Hợp Tác Xã
  • Khái Niệm Hợp Tác Xã Là Gì? Ưu Và Nhược Điểm Của Hợp Tác Xã
  • Hợp Tác Xã Là Gi? Đặc Điểm Của Hợp Tác Xã?
  • Khái Niệm, Đặc Điểm Của Doanh Nghiệp Tập Thể (Hợp Tác Xã)
  • Hợp tác xã là gì? Hợp tác xã là một loại hình tổ chức kinh tế. Khái niệm hợp tác xã là gì? Đặc điểm của hợp tác xã, ưu và nhược điểm của hợp tác xã đối với các loại hình doanh nghiệp khác như thế nào?

    Hợp tác xã là một tổ chức kinh tế nhưng không hoạt động với vai trò chủ yếu là phát triển kinh tế mà là tạo công ăn việc làm cho người lao động góp phần ổn định chính trị-xã hội. Do vậy mà mô hình hợp tác xã càng trở nên được ưu tiên khuyển khích phát triển ở Việt Nam. Trải qua quá trình áp dụng các cơ chế quản lý hợp tác xã theo Luật hợp tác xã năm 2003, tình hình kinh tế-xã hội nước ta đã có những bước tiến đáng kể song vẫn còn gặp nhiều hạn chế. Chính vì thế Luật hợp tác xã năm 2012 ra đời đã đánh dấu những bước tiến quan trong để hoàn thiện hơn những quy định về hợp tác xã cho đúng với bản chất của nó

    – Khái niệm Hợp tác xã theo Luật Hợp tác xã 2003:” Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật này để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

    Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích luỹ và các nguồn vốn khác của hợp tác xã theo quy định của pháp luật.”

    Theo Luật Hợp tác xã 2012 thì khái niệm này đã được thay đổi như sau:”Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã.

    Liên hiệp hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 04 hợp tác xã tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu chung của hợp tác xã thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý Liên hiệp hợp tác xã”.

    So với Luật Hợp tác xã năm 2003 thì Luật hợp tác xã năm 2012 đã làm rõ được bản chất của HTX là một tổ chức kinh tế thuộc thành phần kinh tế tập thể thành lập trên tinh thần tự nguyện, nhằm lợi ích chung của các thành viên. Luật hợp tác xã năm 2012 đã bỏ quy định “HTX hoạt động như một loại hình doanh nghiệp”, quy định này đã gây ra hai luồng ý kiến. Đa số ý kiến cho rằng, hợp tác xã là tổ chức kinh tế tự chủ do các thành viên tự nguyện thành lập nhằm đáp ứng nhu cầu chung của mình mà từng thành viên đơn lẻ không thực hiện được hoặc thực hiện kém hiệu quả hơn. Một số ít ý kiến khác cho rằng: Cần khẳng định “hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp” như được quy định tại Luật Hợp tác xã năm 2003 vì thực chất hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp đặc thù, cần được bảo đảm hoạt động bình đẳng với mọi loại hình doanh nghiệp khác và có quyền kinh doanh một số ngành nghề mà pháp luật không cấm.

    Thứ nhất, xét về góc độ kinh tế, hợp tác xã là một tổ chức kinh tế mang tính xã hội. Tính xã hội của HTX thể hiện ở chỗ:

    Nguyên tắc phân chia lợi nhuận: Một phần lợi nhuận trong hợp tác xã dùng để trích lập các quỹ, được phân chia cho việc đáp ứng nhu cầu giáo dục, huấn luyện, thông tin cho xã viên, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa – xã hội chung của cộng đồng dân cư địa phương … Một phần lợi nhuận khác cần được phân phối lại cho xã viên theo mức độ sử dụng dịch vụ. Do vậy mà kể cả những thành viên góp vốn ít nhưng vẫn có cơ hội được nhiều lợi nhuận hơn người góp nhiều.

    Tổ chức quản lí: thành viên hợp tác xã có quyền biểu quyết ngang nhau.

    Thứ hai, có số lượng thành viên tối thiểu là 7.

    Thứ ba, xét về góc độ pháp lý Hợp tác xã có tư cách pháp nhân và chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi vốn của mình.

    Thứ tư, thành viên hợp tác xã góp vốn đồng thời cam kết sử dụng sản phẩm dịch vụ của hợp tác xã hoặc người lao động trong hợp tác xã. Nếu không sử dụng sản phẩm dịch vụ trong thời gian 3 năm trở lên hoặc không làm việc trong hợp tác xã quá 2 năm thì mất tư các thành viên.

    Hiện nay, các nội dung về hợp tác xã hiện nay được quy định tại Luật hợp tác xã năm 2012, Bộ luật Dân sự năm 2021. Cụ thể như sau:

    Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật hợp tác xã năm 2012, “Hợp tác xã” là khái niệm dùng để chỉ một tổ chức kinh tế tập thể do ít nhất 07 thành viên cùng tự nguyện thành lập, đồng sở hữu và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong việc thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo ra việc làm, nhằm đáp ứng nhu cầu chung của tập thể các thành viên. Hợp tác xã là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, hoạt động trên cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, thực hiện cách thức quản lý hợp tác xã theo cơ chế bình đẳng và dân chủ.

    Trong đó: Nhu cầu chung của thành viên, theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Luật hợp tác xã năm 2012, là khái niệm dùng để chỉ những mong muốn, những nhu cầu phát sinh thường xuyên, ổn định về việc được phép sử dụng các sản phẩm, dịch vụ từ hoạt động sản xuất, kinh doanh chung của các thành viên hợp tác xã.

    Các đặc điểm của hợp tác xã

    Căn cứ vào khái niệm hợp tác xã và các quy định khác về hợp tác xã, có thể thấy, hợp tác xã có những đặc điểm sau đây:

    Hợp tác xã được xác định là một tổ chức kinh tế, bởi lẽ đây cũng là một tô chức được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, mà cụ thể là hoạt động theo quy định của Luật hợp tác xã và các văn bản hướng dẫn Luật hợp tác xã. Việc khẳng định hợp tác xã là một tổ chức kinh tế được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 3 Luật hợp tác xã năm 2012, và tại khoản 16 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2014.

    Tuy nhiên, hợp tác xã không phải là một tổ chức kinh tế thông thường mà là tổ chức kinh tế mang tính tập thể. Đặc điểm này xuất phát từ đặc trưng hợp tác xã là tổ chức được lập nên dưới sự tham gia của tập thể nhiều xã viên cùng tự nguyện hợp tác, tương trợ cùng nhau giải quyết các yêu cầu chung, mục đích chung trong việc sản xuất, kinh doanh và phát triển kinh tế. Hợp tác xã cũng được xác định là sự thể hiện của hình thức kinh tế tập thể, sự sở hữu tập thể.

    Hai là, Hợp tác xã là tổ chức kinh tế vừa thể hiện tính kinh doanh vừa mang tính xã hội.

    Hợp tác xã là tổ chức kinh tế mang tính xã hội, bởi bên cạnh việc cùng sản xuất và cùng kinh doanh, tạo ra thu nhập thì hợp tác xã còn tạo điều kiện cho tất cả các thành viên của mình cùng lao động sản xuất, đóng góp trên cơ sở tự nguyện và được hưởng lợi từ việc lao động của mình. Việc thành lập và phát triển của hợp tác xã không chỉ tạo ra việc làm cho thành viên, giảm được tình hình thất nghiệp của xã hội mà còn tạo điều kiện phát triển cho những cá nhân nhỏ lẻ, không đủ khả năng tự kinh doanh độc lập. Ngoài ra, qua khái niệm hợp tác xã, có thể thấy đây là sự thể hiện của hình thái kinh tế tập thể mang tính cộng đồng.

    Ba là, Hợp tác xã có số lượng thành viên tối thiểu là 07 thành viên.

    Đặc điểm này xuất phát từ việc để thành lập hợp tác xã thì ít nhất phải có ít nhất 07 thành viên tự nguyện tham gia thành lập hợp tác xã. Thành viên của hợp tác xã có thể là cá nhân, hộ gia đình, và cũng có thể là pháp nhân. Trong đó, nếu là cá nhân thì phải từ đủ 18 tuổi trở lên, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự; nếu là hộ gia đình thì phải có người đại diện hợp pháp theo quy định của pháp luật.

    Hợp tác xã là một tổ chức có tư cách pháp nhân, bởi tổ chức này đáp ứng đầy đủ các điều kiện để được công nhận là pháp nhân theo quy định tại Điều 74 Bộ luật Dân sự năm 2021. Cụ thể:

    – Hợp tác xã là tổ chức được thành lập một cách hợp pháp theo quy định của Luật hợp tác xã.

    Hợp tác xã được thành lập dưới sự tự nguyện thành lập của các sáng lập viên thông qua hội nghị thành lập hợp tác xã. Hợp tác xã có điều lệ, có tên, biểu tượng riêng của hợp tác xã, và có đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước khi chính thức đi vào hoạt động.

    – Hợp tác xã cũng có cơ cấu tổ chức như cơ cấu tổ chức của một pháp nhân, cũng có cơ quan điều hành, có điều lệ theo quy định của pháp luật.

    Cơ cấu tổ chức của hợp tác xã, bao gồm đại hội thành viên, hội đồng quản trị, giám đốc (tổng giám đốc) và ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên.Trong đó, đại hội thành viên là cơ quan có quyền quyết định cao nhất của hợp tác xã. Còn hội đồng quản trị hợp tác xã là cơ quan quản lý hợp tác xã do hội nghị thành lập hoặc đại hội thành viên bầu. Giám đốc (tổng giám đốc) là người điều hành hoạt động của hợp tác xã. Và Ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên là cơ quan/người do đại hội thành viên bầu và kiểm soát, giám sát hoạt động của hợp tác xã.

    – Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình.

    Tài sản của hợp tác xã không chỉ là tiền (vốn góp, vốn huy động, vốn hình thành trong quá trình hoạt động, các khoản trợ cấp, lợi nhuận), mà còn là các phần vật chất khác như tài sản hiện hữu cố định, quyền sử dụng đất. Những tài sản của hợp tác xã được quản lý và sử dụng theo nguyên tắc, quy định trong điều lệ, trong quy chế quản lý tài chính, và hoàn toàn độc lập với tài sản riêng của các xã viên (thành viên hợp tác xã).

    – Nhân danh mình độc lập tham gia vào các quan hệ pháp luật.

    Năm là, các thành viên của hợp tác xã tham gia hợp tác xã không chỉ trên tinh thần tự nguyện, cùng lao động sản xuất, cùng làm việc, cùng đầu tư mà còn trên cơ sở cùng phân phối và cam kết sử dụng hàng hóa, dịch vụ do chính hợp tác xã cung cấp. Trường hợp không sử dụng sản phẩm dịch vụ trong thời gian từ 03 năm trở lên hoặc không làm việc trong hợp tác xã từ 02 năm trở lên thì có thể bị mất tư cách thành viên. Điều này cũng cho thấy sự khác biệt đối với các hình thái kinh doanh khác.

    3. Ưu và nhược điểm của hợp tác xã

    Cũng giống như các loại hình doanh nghiệp hay các tổ chức khác, hợp tác xã cũng có những ưu nhược điểm nhất định:

    – Hợp tác xã là mô hình tổ chức kinh tế mà có thể thu hút được nhiều thành viên tham gia, tạo điều kiện phát triển cho việc sản xuất, kinh doanh của những cá thể riêng lẻ, thể hiện tính xã hội cao.

    – Việc quản lý hợp tác xã được thực hiện trên nguyên tắc dân chủ và bình đẳng, nên không phân biệt nhiều vốn hay ít vốn, đóng góp nhiều hay đóng góp ít, các xã viên vẫn được bình đẳng trong việc biểu quyết, quyết định các vấn đề của hoạt động của hợp tác xã.

    – Thành viên trong hợp tác xã chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn đã góp vào hợp tác xã. Trường hợp này, trách nhiệm hữu hạn tạo điều kiện cho cho các xã viên có thể yêu tâm cùng đầu tư, sản xuất, kinh doanh tránh được tâm lý lo lắng rủi ro khi tham gia vào hợp tác xã.

    – Cũng do cơ chế bình đẳng, dù đóng góp được nhiều hay ít vốn thì đều có quyền quyết định như nhau đối với vấn đề của hợp tác xã, nên mô hình hợp tác xã thường không thu hút được thành viên đóng góp được nhiều vốn, vì thành viên tham gia hợp tác xã sẽ cảm thấy quyền lợi về việc quyết định không phù hợp với số vốn mà mình đã góp.

    – Số lượng thành viên tham gia hợp tác xã thường rất đông nên sẽ có nhiều vấn đề khó khăn, phức tạp trong quá trình quản lý hợp tác xã.

    – Nguồn vốn của hợp tác xã thường được huy động chủ yếu từ nguồn vốn góp từ các thành viên và có tiếp nhận thêm các khoản trợ cấp, hỗ trợ từ Nhà nước và các tổ chức khác, nhưng qua đó cũng cho thấy khả năng huy động vốn không cao so với các hình thái kinh tế khác.

    Như vậy, qua phân tích nêu trên, có thể thấy hợp tác xã là một tổ chức kinh tế đặc biệt, là đại diện cho hình thái kinh tế tập thể, đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của nền kinh tế của đất nước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Toán Lớp 4
  • Tính Chất Hình Thoi Và Dấu Hiệu Nhận Biết Hình Thoi Có Ví Dụ Nhận Biết .
  • Chinh Phục Gen Z Tại Asia
  • Kết Nối Với Thế Hệ Z Tại Việt Nam
  • Chân Dung Người Tiêu Dùng Thuộc Thế Hệ Z