Vài Suy Nghĩ Về Vai Trò Của Kinh Tế Nhà Nước

--- Bài mới hơn ---

  • Các Cơ Cấu Lợi Ích Kinh Tế Trong Các Thành Phần Kinh Tế Ở Nước Ta
  • Tại Sao Kinh Tế Nhà Nước Giữ Vai Trò Chủ Đạo
  • Phân Tích Tính Tất Yếu Khách Quan Và Lợi Ích Của Sự Phát Triển Kinh Tế Thị Trường Ở Việt Nam
  • Phát Triển Kinh Tế Chia Sẻ: Lợi Ích Nhiều Mặt
  • Phát Triển Kinh Tế Phải Từ Lợi Ích Của Người Dân
  • Kinh tế Nhà nước (KTNN) tại Việt Nam đã có nhiều đóng góp cho xã hội trong những năm qua. Tuy vậy, cũng có nhiều vấn đề cần được đặt ra khi các mục tiêu về hiệu quả và năng suất, về bảo toàn vốn chủ sở hữu không đạt được.

    Kinh tế Nhà nước – “vai chính” trên “sân khấu kinh tế”

    Trước tiên, cần làm rõ vai trò chủ đạo hay mục tiêu chiến lược của KTNN, nhằm tổ chức lại KTNN thành hệ thống có mục tiêu phù hợp để đạt hiệu quả.

    Ở đây, KTNN được hiểu là tất cả các tổ chức kinh tế trong đó nhà nước làm chủ đại diện toàn bộ hoặc phần lớn vốn sở hữu, giữ quyền thành lập và điều hành hoạt động. Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) và nhiều đơn vị sự nghiệp khác là các tổ chức điển hình của KTNN.

    Về mặt lý thuyết, vai trò chủ đạo hay “vai chính” trên “sân khấu kinh tế” có thể là một hoặc kết hợp một số vị trí sau:

    1. Chủ đạo về vốn sở hữu: khi vốn sở hữu trong toàn bộ nền kinh tế thuộc về một đối tượng nào đó đạt trên 50% hoặc ít hơn 50% nhưng chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu vốn phân theo chủ sở hữu, thì đối tượng đó đóng vai trò chủ đạo về vốn và thường chi phối mọi hoạt động.

    Vốn sở hữu có thể tăng lên hoặc giảm xuống dẫn đến vai trò chủ đạo có thể thay đổi.

    2. Chủ đạo về ngành kinh tế: khi một hoặc vài ngành kinh tế quan trọng thuộc về hoặc chịu sự chi phối của một đối tượng, thường có sự sở hữu chính về vốn. Vai trò chủ đạo có thể ở khâu sản xuất hoặc khâu phân phối hoặc cả hai.

    Chủ đạo về ngành thường dẫn đến độc quyền và nhiều quốc gia có luật để chống hoặc hạn chế sự độc quyền nhằm đảm bảo lợi ích chung cho toàn xã hội.

    3. Chủ đạo về hiệu quả sử dụng vốn: hiệu quả là yếu tố khiến cho vốn ngày càng tăng lên và về lâu dài sẽ chi phối ngành hoặc toàn bộ nền kinh tế.

    Vị trí chủ đạo về hiệu quả sử dụng vốn có tính chiến lược và sẽ giành chiến thắng chung cuộc khi xét tới quá trình lịch sử của ngành hoặc nền kinh tế.

    4. Chủ đạo về quy mô GDP tạo ra: giá trị sản phẩm tạo ra lớn nhất được đo lường bằng doanh thu. Vai trò chủ đạo này thực ra là kết quả của việc nắm giữ được vị trí 1, 2 hoặc 3; hoặc sự kết hợp giữa các vị trí này.

    5. Chủ đạo về an sinh xã hội và lợi ích cộng đồng: vai trò chính trong việc cung cấp sản phẩm (hàng hóa và dịch vụ) cơ bản và giá rẻ cho người dân; hoặc duy trì hoạt động kinh tế phi lợi nhuận vì lợi ích cộng đồng, dân tộc ít người…

    6. Chủ đạo về khoa học kỹ thuật và nghiên cứu: vai trò tiên phong trong phát minh sáng chế, ứng dụng khoa học công nghệ và tạo sản phẩm mới.

    Ngoài ra, vai trò chủ đạo có thể về việc làm – tức có lực lượng lao động lớn nhất; về thu nhập tạo ra… Những vai trò này có thể trùng lặp một phần hoặc toàn bộ với những vị trí ở trên.

    Để nắm vai trò chủ đạo, KTNN phải có được một hoặc kết hợp một số vị trí trên.

    Vì sao KTNN không tròn “vai chính”?

    Trước đây, vai trò chủ đạo của KTNN là về vốn sở hữu và kéo theo là chủ đạo về ngành và quy mô GDP thông qua việc xác lập sở hữu nhà nước với đa số nguồn lực sản xuất chính.

    Thực tiễn cũng đã chứng minh KTNN không có được vai trò chủ đạo về hiệu quả với bằng chứng rõ nhất là trong thời gian dài không tạo ra khối lượng sản phẩm đủ để đáp ứng nhu cầu xã hội và tương xứng với lượng vốn sở hữu. Điển hình nhất là ngành nông nghiệp trong những năm cuối thập niên 70 và đầu thập niên 80. Vì sao KTNN không thể chủ đạo được về hiệu quả?

    Thực tế cho thấy năng suất lao động và hiệu quả quản lý trong KTNN không cao do lợi ích cá nhân đan xen và lấn át lợi ích chung, không rõ đối tượng thụ hưởng, dẫn đến vô hiệu hóa cơ chế giám sát.

    Không có cạnh tranh cũng khiến cho năng suất, chất lượng lao động không thể cao hơn mức trung bình. Cơ chế “thi đua” thay thế cho cạnh tranh cũng đã chứng tỏ sự bất cập.

    Chủ đạo về ngành kinh tế thường dẫn đến hình thành độc quyền ngành, lợi ích ngành và lợi ích nhóm, không có cạnh tranh nên hiệu quả thấp.

    Nếu KTNN nắm độc quyền ngành thì ngoài những khiếm khuyết của mô hình độc quyền, còn có thêm yếu tố kém hiệu quả đặc trưng của KTNN như đã phân tích và như vậy, rất khó duy trì được cơ chế giám sát để vừa loại trừ được lợi ích nhóm, vừa nâng cao hiệu quả ngành lẫn hiệu quả xã hội.

    Với những quy định chặt chẽ và chậm thay đổi, KTNN cũng rất khó dẫn đầu trong nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ để tạo sản phẩm mới mà bản chất là tạo ra sự thay đổi.

    Thực tế cũng cho thấy chưa nước nào có KTNN nắm được vai trò chủ đạo trong lĩnh vực này. Do vậy, vai trò chủ đạo của KTNN có thể tập trung vào các vị trí chủ đạo về an sinh xã hội và lợi ích cộng đồng và chủ đạo về quốc phòng, an ninh. Những vị trí này ít chịu sự cạnh tranh, hiệu quả về kinh tế không phải là quan trọng hàng đầu.

    Nói cách khác, KTNN đóng vai “chính diện” và “gương mẫu” để làm đối trọng và dẫn dắt những thành phần kinh tế khác đi theo quỹ đạo chính là phục vụ lợi ích chung cho số đông và cho toàn xã hội, khắc phục được một khiếm khuyết chính của kinh tế tư bản chủ nghĩa là chỉ đáp ứng nhu cầu của người có tiền và bỏ qua nhu cầu của người nghèo hoặc những đối tượng thiệt thòi khác, chạy theo hiệu quả kinh tế là chính.

    Nên chăng xem đây là vai trò chủ đạo và nhiệm vụ chiến lược của KTNN?

    Nếu xét rộng ra, vai trò kinh tế chính của nhà nước là cung cấp hàng hóa và dịch vụ công căn bản như quốc phòng, thực thi pháp luật, quản lý kinh tế, giáo dục, bảo hiểm và y tế… với chi phí là tiền thuế mà người dân và doanh nghiệp phải trả.

    Đây là loại hình dịch vụ lớn nhất về quy mô với mức “doanh thu” tức tiền thuế lên đến 15 – 35% GDP tuỳ theo quốc gia. Ở Việt Nam, mức thuế và phí cũng hơn 25% GDP tuỳ theo năm.

    Như vậy về bản chất, chính nhà nước mới đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Thông qua các dịch vụ công và điều khiển nền kinh tế bằng chính sách, nhà nước (chứ không phải KTNN) định hướng và điều khiển các thành phần kinh tế khác, điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật và nguồn nhân lực…

    Chỉ có nhà nước mới kịp thời và đủ sức bảo vệ lợi ích chung của xã hội trước sức ép độc quyền và lũng đoạn của các tập đoàn tư bản đối với thị trường trong nước.

    Nói cách khác, nên định vị lại KTNN giữ vai trò chủ đạo trong việc định hướng xã hội chủ nghĩa cho nền kinh tế thị trường. Bên cạnh đó, cần xem xét đến khả năng nâng cao vai trò chủ đạo của nhà nước trong nền kinh tế thị trường song song với việc thay đổi mục tiêu của KTNN nhằm nâng cao hiệu quả cho nền kinh tế.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giá Trị Và Lợi Ích Của Kiểm Toán Nhà Nước
  • Cơ Cấu Kinh Tế Nhiều Thành Phần Là Gì? Vai Trò
  • Giá Trị Và Vai Trò Của Rừng Đối Với Nền Kinh Tế Quốc Dân
  • Chương 2: Hiệu Quả Tài Chính Chuong2 Hieuqua Ppt
  • Tại Sao Sữa Chứa Trong Hộp Giấy Chữ Nhật, Trong Khi Nước Ngọt Lại Chứa Trong Lon Trụ Tròn?
  • Các Nhà Kinh Tế Học Mang Lại Ích Lợi Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Tầm Quan Trọng Của Hoạt Động Ngoại Khoá
  • Du Học: Lợi Ích Của Hoạt Động Ngoại Khóa
  • Tầm Quan Trọng Hoạt Động Ngoại Khóa Với Học Sinh – Sinh Viên
  • Ngành Vũ Trụ Và Ứng Dụng Học Gì? Ra Trường Làm Gì?
  • Lợi Ích Của Phương Pháp Montessori Đối Với Trẻ
  • Robert J. Shriller là nhà kinh tế học đoạt giải thưởng Nobel, Giáo sư kinh tế tại Đại học Yale và là đồng tác giả của Chỉ số giá nhà đất Mỹ Case-Shriller. Ông là tác giả cuốn sách Irrational Exuberance, ấn bản thứ 3 của cuốn sách này được xuất bản vào tháng 1 năm 2021, và gần đây nhất là cuốn sách Finance and the Good Society.

    Cuốn sách năm 2010 Sống tốt hơn nhờ kinh tế học (Better Living through Economics), được biên tập bởi John Siegfried, nhấn mạnh tác động đối với thế giới thực của các sáng kiến như: buôn bán khí thải, hoàn thuế thu nhập cho người thu nhập thấp (earned-income tax credit), thuế quan thương mại thấp, các chương trình hỗ trợ người thất nghiệp kiếm việc làm (welfare-to-work programs), chính sách tiền tệ hiệu quả hơn, đấu giá giấy phép sử dụng, giảm quy định trong ngành vận tải, các thuật toán hoãn quyết định chấp nhận (deferred-acceptance algorithms), chính sách chống độc quyền hợp lý hơn, một quân đội hoàn toàn dựa trên lính tình nguyện, và việc sử dụng thông minh các lựa chọn mặc định để khuyến khích tiết kiệm cho nghỉ hưu.

    Trong cuốn sách mới Những nhà kinh tế nghìn tỷ đô (Trillion Dollar Economists), Robert Litan của Viện nghiên cứu Brookings tranh luận rằng lĩnh vực kinh tế học “đã tạo ra hàng tỷ đô la thu nhập và của cải cho nước Mỹ và phần còn lại của thế giới”. Điều đó nghe có vẻ như một sự đóng góp tốt so với một lĩnh vực khá nhỏ bé, đặc biệt nếu chúng ta làm vài phép toán đơn giản. Ví dụ, chỉ có 20.000 thành viên của Hiệp hội Kinh tế Hoa Kỳ (mà tôi được bầu làm Chủ tịch mới đắc cử); nếu như họ tạo ra 2 nghìn tỷ đô la thu nhập và của cải thì mỗi nhà kinh tế tạo ra khoảng 100 triệu đô la.

    Tuy nhiên chỉ trích như vậy là không công bằng. Chúng ta không đổ lỗi cho các bác sĩ bởi họ dự đoán sai lầm tất cả bệnh tật của chúng ta. Bệnh tật xảy ra phần lớn là do ngẫu nhiên, và kể cả nếu các bác sĩ không thể nói với chúng ta những căn bệnh mà ta sẽ mắc phải vào năm sau hay loại bỏ tất cả sự đau đớn khi chúng ta bị bệnh, chúng ta vẫn rất hạnh phúc với những gì họ có thể giúp đỡ. Tương tự, hầu hết các nhà kinh tế dành những nỗ lực của họ cho các vấn đề khác xa với việc tạo ra một quan điểm nhất trí về thị trường chứng khoán hay tỷ lệ thất nghiệp. Và chúng ta nên biết ơn họ vì họ làm như vậy.

    Một lý do có thể là quan điểm cho rằng rất nhiều nhà kinh tế đã quá tự mãn khi quảng bá “thuyết thị trường hiệu quả” – một quan điểm có vẻ như loại bỏ khả năng giá tài sản sụp đổ. Tin rằng thị trường luôn biết những điều tốt nhất, họ đã bỏ qua những cảnh báo về giá chứng khoán và giá nhà đất quá cao được đưa ra bởi một vài người tầm thường (trong đó có tôi). Sau khi cả hai thị trường sụp đổ một cách ngoạn mục, uy tín của các chuyên gia đã phải hứng chịu một cú đòn trực diện.

    Nguồn: Robert J. Shriller, “ What Good Are Economists ?”, Project Syndicate, 15/01/2015.

    Search for:

    Podcast mới nhất

    Bài được đọc nhiều

    • Hồi ký của Viktor Maslov, con rể cố TBT Lê Duẩn

    Các bài viết trên trang thể hiện quan điểm riêng của tác giả, không phải quan điểm của Dự án Nghiên cứu Quốc tế.

    © Bản quyền các bài viết và bài dịch thuộc về các tác giả, dịch giả và Dự án Nghiên cứu Quốc tế. Mọi bài đăng lại, trích dẫn phải ghi rõ nguồn và dẫn link tới bài gốc trên Nghiencuuquocte.org

    Mọi góp ý, liên hệ xin gửi về:

    Lê Hồng Hiệp,

    [email protected]

    NCQT trên Telegram

    Theo dõi NCQT trên Telegram để nhận được thông báo bài viết mới và các thông tin, tài liệu… hữu ích khác: https://t.me/DAnghiencuuquocte

    Nhận thông báo qua Email

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ưu Và Nhược Điểm Đặc Trưng Của Nghành Kế Toán
  • Ưu Điểm Của Kế Toán – Ngành Kế Toán Là Gì ?
  • 6 Lợi Ích Của Việc Học Âm Nhạc Với Trẻ Nhỏ
  • Lợi Ích Của Việc Học Steam Là Gì?
  • 7 Lợi Ích Của Việc Thực Hành “Quét Cơ Thể”
  • Lợi Ích Của Đặc Khu Kinh Tế Đối Với Nhà Đầu Tư?

    --- Bài mới hơn ---

  • Lập Đặc Khu Kinh Tế Mang Lại Lợi Ích Gì Cho Đất Nước?
  • Những Lợi Ích Vượt Trội Khi Phú Quốc Lên Đặc Khu Kinh Tế
  • Lợi Ích Của Đặc Khu Kinh Tế Đối Với Phú Quốc
  • Đặc Khu Sẽ Đem Lại Nhiều Lợi Ích
  • Báo Cáo Nghiên Cứu Khoa Học:
  • Được gì và mất gì là vấn đề được các nhà đầu tư quan tâm hàng đầu khi đầu tư vốn tài chính vào vùng đặc khu kinh tế. Nếu bạn là một trong những nhà đầu tư thì bạn cần hiểu và nắm thật rõ những lợi ích (ưu đãi, đặc quyền) của đặc khu kinh tế mang lại.

    Dân Đầu Tư sẽ cung cấp những nội dung cơ bản nhất để bạn có thể nắm ngay được các lợi ích của đặc khu kinh tế.

    Trước tiên, bạn cần hiểu đặc khu kinh tế là gì? Hiểu cơ bản và ngắn gọn nhất đó là khu vực có những biện pháp khuyến khích đặc biệt để phát triển nền kinh tế vượt bậc.

    (Bạn có thể đọc bài viết để hiểu rõ hơn: Đặc khu kinh tế là gì?)

    Một khu kinh tế bao gồm nhiều khu vực chức năng như khu vực phi thuế quan, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu du lịch, khu thương mại dịch vụ, giải trí,…Và được áp dụng chính sách điều lệ, quy định riêng biệt với các vùng còn lại.

    Thúc đẩy kinh tế và thu hút đầu tư trong nước và quốc tế là mục đích của việc thành lập đặc khu kinh tế.

    2 – Lợi ích vượt trội của đặc khu kinh tế với nhà đầu tư

    Đầu tư vào đặc khu giúp doanh nghiệp hưởng những ưu đãi đặc biệt về cơ chế pháp lý, chính sách tài chính – thuế quan, chính sách đất đai và nguồn nhân lực.

    Tại đặc khu kinh tế Phú Quốc, doanh nghiệp được thuê đất tối đa 70 năm.

    Nhà đầu tư có thể dễ dàng triển khai trong việc tuyển, xây dựng nguồn nhân lực trình độ cao. Bởi chính sách linh hoạt trong vấn đề hợp đồng lao động không phân biệt nguồn lao động nhập cư hay nguồn lao động địa phương.

    Điển hình như tại ” đặc khu kinh tế Thâm Quyến”. Việc linh hoạt trong cơ chế cấp hộ khẩu và tuyển dụng công chức giúp các doanh nhân (nhà đầu tư) đột phá đã có thể biến Thâm Quyến thành một trong những thành phố sáng tạo nhất thế giới.​

    Với chính sách ưu đãi cực tốt dành cho doanh nghiệp “Không một nơi đâu trừ đặc khu kinh tế”. Nguồn lực, nguồn vốn đầu tư sẽ được đổ về đặc khu. Đặc biệt là các doanh nghiệp – nhà đầu tư lớn cả trong và ngoài nước sẽ làm cho nhu cầu sử dụng bất động sản lớn, giá trị bất động sản tăng cao.

    ⇒ GIÁ ĐẤT SẼ ĐEM LẠI GIÁ TRỊ SIÊU LỢI NHUẬN CHO NHÀ ĐẦU TƯ

    Ngoài ra, đặc khu kinh tế hội tụ đủ các yếu tố về môi trường sống và vị trí địa lý chiến lược có thị trường tiêu dùng lớn, có cảng hàng không – cảng biển quốc tế cùng các trục giao thông đắc địa kết nối trong quốc gia và quốc tế.

    Bạn nên tham khảo dự thảo Luật Đặc khu kinh tế để nắm được toàn bộ những lợi ích dành cho các nhà đầu tư tại SEZ. Tất cả nằm ở bài viết này: Luật Đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt.

    Nhà đầu tư cần tận dụng triệt để tất cả ưu đãi – ưu thế – đặc quyền của đặc khu kinh tế để xây dựng chiến lược kinh doanh mang lại lợi nhuận lớn mạnh và bền vững cho doanh nghiệp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hiệu Quả Kinh Tế Từ Những Sáng Kiến
  • Hiệu Quả Từ Những Sáng Kiến, Sáng Tạo
  • Phiếu Đánh Giá Mức Độ Ảnh Hưởng Của Sáng Kiến, Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học
  • Giá Trị Thật Của Sáng Kiến Kinh Nghiệm Là Gì?
  • Lợi Ích Thiết Thực Từ Một Sáng Kiến Kinh Nghiệm
  • Bảo Đảm Tính Chủ Đạo Của Thành Phần Kinh Tế Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Vị Trí Của Ngành Cà Phê Và Vai Trò Của Xuất Khẩu Cà Phê
  • Phát Triển Kinh Tế Tư Nhân, Một Chủ Trương Lớn Của Đảng Ta Trong Quá Trình Đổi Mới Nền Kinh Tế
  • …:: Cục Thống Kê Tỉnh Lâm Đồng ::…
  • Nội Dung Chủ Yếu, Đặc Điểm, Ưu Điểm Và Hạn Chế Của Các Phương Pháp Quản Lý
  • Sở Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn
  • (Chinhphu.vn) – Đồng chí Y Thanh Hà Niê Kđăm cho rằng, ở Việt Nam, vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước xuất phát từ lợi ích của đất nước, của nhân dân trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Kinh tế Nhà nước phát huy tốt vai trò chủ đạo thì kinh tế-xã hội sẽ phát triển nhanh, quốc phòng-an ninh được giữ vững.

    Bí thư Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương Y Thanh Hà Niê Kđăm

    Phấn đấu đến năm 2025: Các DN nâng cao một bước quan trọng hiệu quả sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, chất lượng sản phẩm, năng lực cạnh tranh; phấn đấu có 1-2 ngân hàng thương mại nằm trong top 100 ngân hàng lớn nhất về tổng tài sản trong khu vực châu Á và có ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng khoán nước ngoài; tất cả các ngân hàng thương mại áp dụng Basel II theo phương pháp tiêu chuẩn. Các tập đoàn, tổng công ty hoàn thành cơ bản mục tiêu, nhiệm vụ về cổ phần hóa và thoái vốn.

    Tại Đại hội, đồng chí Y Thanh Hà Niê Kđăm bày tỏ nhất trí cao với nội dung các văn kiện Đại hội XIII của Đảng, đặc biệt là các quan điểm về DNNN: “Tiếp tục thực hiện sắp xếp lại DNNN, tập trung giữ vững những lĩnh vực then chốt, thiết yếu; những địa bàn quan trọng về quốc phòng, an ninh; những lĩnh vực mà DN thuộc các thành phần kinh tế khác không đầu tư. Củng cố, phát triển một số tập đoàn kinh tế Nhà nước có quy mô lớn, hoạt động hiệu quả, có khả năng cạnh tranh khu vực và quốc tế trong một số ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế… Nâng cao hiệu quả của DNNN sau cổ phần hoá. Hình thành đội ngũ quản lý DNNN chuyên nghiệp, có trình độ cao”.

    Đồng chí Y Thanh Hà Niê Kđăm cho rằng, ở Việt Nam, vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước xuất phát từ lợi ích của đất nước, của nhân dân trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Kinh tế Nhà nước phát huy tốt vai trò chủ đạo thì kinh tế-xã hội sẽ phát triển nhanh, quốc phòng-an ninh được giữ vững.

    Một trong những yếu tố quan trọng để đạt được mục tiêu này là tạo cơ chế, chính sách để thúc đẩy DNNN phát triển bền vững. Chỉ khi đó mới nâng cao chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh của DNNN để làm tốt vai trò nòng cốt, dẫn dắt trong các lĩnh vực kinh tế then chốt, tạo điều kiện để phát triển các DN thuộc thành phần kinh tế khác, bảo đảm DN Việt Nam thật sự trở thành lực lượng nòng cốt trong phát triển kinh tế-xã hội, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế.

    Từ nhận thức và sự tiếp cận quan điểm nêu trên, đồng chí Y Thanh Hà Niê Kđăm đề xuất 5 nhóm giải pháp hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy DNNN phát triển bền vững, góp phần bảo đảm tính chủ đạo của thành phần kinh tế Nhà nước.

    Cụ thể, thứ nhất là nâng cao vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng đối với DNNN trong thời gian tới. Nghiên cứu hoàn thiện mô hình tổ chức đảng, mô hình các tổ chức chính trị-xã hội trong DN. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, nhất là cán bộ chủ chốt DN, nâng cao tính Đảng và ý thức tuân thủ pháp luật, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Tiếp tục đổi mới phương thức, nâng cao vai trò lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng trong DNNN đối với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, công tác xây dựng Đảng.

    Thứ hai, sớm xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế pháp luật, tạo khuôn khổ và hành lang pháp luật đầy đủ, đồng bộ, thống nhất để cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN. Nghiên cứu, rà soát sửa đổi cơ chế quản lý, giám sát và thực hiện quyền, trách nhiệm của cơ quan và người đại diện sở hữu Nhà nước, hoàn thiện mô hình quản lý, giám sát DNNN và vốn, tài sản của Nhà nước đầu tư vào DN một cách rõ ràng hơn, phù hợp với bối cảnh tình hình hiện nay, làm cơ sở cho DNNN hoạt động, tận dụng được thế mạnh của các DN lớn, phát huy vai trò mở đường, dẫn dắt của DNNN.

    Rà soát, xây dựng cơ chế, chính sách hoặc các quy định cụ thể để tách bạch việc thực hiện sản xuất, kinh doanh của DNNN với các hoạt động sản xuất, cung ứng hàng hóa, dịch vụ công ích Nhà nước đặt hàng cho DN. Trên cơ sở đó thực hiện việc giám sát và đánh giá DN trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh theo đúng chuẩn mực quốc tế và bảo đảm hoạt động kinh doanh của DNNN bình đẳng như các DN khác.

    Thứ ba là rà soát và hoàn thiện bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của DNNN, người đại diện phần vốn Nhà nước tại DN, người quản lý DN. Tăng cường minh bạch thông tin đối với tất cả các DNNN theo các tiêu chuẩn áp dụng đối với các công ty đại chúng; nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về DNNN; có chế tài xử lý nhằm bảo đảm tính hiệu quả trong việc phối hợp quản lý, sắp xếp DN giữa các bộ, ngành, địa phương. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm toán kịp thời phát hiện các vi phạm, xử lý nghiêm minh đối với các vi phạm tạo sự “răn đe” để nâng cao hiệu quả quản lý vốn Nhà nước tại DN.

    Thứ tư là kiện toàn và nâng cao hiệu quả hoạt động của Ủy ban quản lý vốn Nhà nước tại DN, có các cơ chế đặc thù để Ủy ban thực sự hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đây là một trong những giải pháp trọng tâm trong việc thay đổi phương thức quản lý vốn Nhà nước đối với các tập đoàn kinh tế, tổng công ty Nhà nước.

    Thứ năm là nghiên cứu việc thành lập cơ quan thực hiện chức năng đầu tư vốn của Nhà nước vào các DNNN vì việc thực hiện đầu tư và tái đầu tư vào các DNNN sẽ đáp ứng nhu cầu phát triển của DN, phù hợp kinh nghiệm quốc tế và các quy định của pháp luật.

    “Với truyền thống yêu nước, cách mạng, đoàn kết, dân chủ, năng động, sáng tạo, kỷ luật, kỷ cương, vị trí và tầm quan trọng của các DNNN cùng với sự lãnh đạo của Trung ương, sự hỗ trợ, phối hợp của các ban, bộ, ngành, các tỉnh, thành phố và sự giúp đỡ của bạn bè trong nước, quốc tế… Đảng bộ Khối DN Trung ương sẽ tận dụng thời cơ, vượt qua khó khăn, thách thức; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng, phát huy mọi nguồn lực, quyết tâm xây dựng các DN, ngân hàng, đơn vị phát triển bền vững, giữ vững vị trí then chốt, dẫn dắt nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế Nhà nước, đóng góp tích cực xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc”, đồng chí Y Thanh Hà Niê Kđăm phát biểu.

    Nguyễn Hoàng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Vai Trò Chủ Đạo Của Kinh Tế Nhà Nước Trong Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Sự Cần Thiết Phải Tiếp Tục Khẳng Định Vai Trò Chủ Đạo Của Kinh Tế Nhà Nước Trong Hiến Pháp
  • Tác Động Của Hội Nhập Quốc Tế Với Mối Quan Hệ Giữa Nhà Nước Và Hội Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Chi Tiết Về Tổ Chức Quốc Tế
  • Lợi Ích Khổng Lồ Cho Nhà Đầu Tư — Đông Tây Land
  • Tại Sao Kinh Tế Nhà Nước Giữ Vai Trò Chủ Đạo

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Tính Tất Yếu Khách Quan Và Lợi Ích Của Sự Phát Triển Kinh Tế Thị Trường Ở Việt Nam
  • Phát Triển Kinh Tế Chia Sẻ: Lợi Ích Nhiều Mặt
  • Phát Triển Kinh Tế Phải Từ Lợi Ích Của Người Dân
  • Luận Văn Tiểu Luận Lợi Ích Của Việc Thu Hút Fdi Với Sự Phát Triển Kinh Tế Ở Việt Nam Và Giải Pháp Nhằm Cải Thiện Môi Trường Đầu Tư Nước Ngoài Tại Việt Nam Để Vừa Thu Hút Được Vốn Nước Ngoài Vừa Bảo Hộ Được Các Nhà Đầu Tư Trong Nước Và Đảm Bảo Vốn Cạnh Tranh
  • Luận Văn Đề Án Phân Tích Cơ Cấu Kinh Tế Nhiều Thành Phần Ở Nước Ta Hiện Nay Và Ích Lợi Của Việc Sử Dụng Cơ Cấu Nhiều Thành Phần Đó Vào Phát Triển Kinh Tế
  • kinh tế nhà nước cần và có thể giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh của nước ta là đi lên chủ nghĩa xã hội, trong hơn 10 năm đổi mới nền kinh tế đất nước, vai trò chủ đạo dẫn dắt, điều tiết nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần của kinh tế nhà.

    Thời gian qua, trong khi kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ thì hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước nhìn chung vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém.

    Thực tế này làm nảy sinh những ý kiến trái chiều về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, trong đó có những ý kiến cho rằng, kinh tế nhà nước không nên giữ vai trò chủ đạo.

    ‌Tại sao kinh tế nhà nước cần giữ vai trò chủ đạo ở Việt Nam

    Không thể phủ nhận sự phát triển của các nước tư bản đã mang lại nhiều kết quả tích cực, nhưng cùng với đó luôn tồn tại một số xu hướng khách quan sau:

    Công bằng xã hội đã trở thành đòi hỏi tất yếu của chính bản thân sự phát triển kinh tế. Công bằng để phát triển và phát triển để thực hiện công bằng không chỉ là khẩu hiệu mang tính đạo đức mà còn là động lực mạnh mẽ, yếu tố nội sinh của sự phát triển kinh tế.

    Tất nhiên, công bằng ở đây không phải theo nghĩa cào bằng, đánh đồng siêng năng với biếng nhác, tích cực với tiêu cực, làm ăn hiệu quả với kém cỏi,điều đó sẽ dẫn tới triệt tiêu động lực phấn đấu của con người.

    – Cùng với tăng trưởng kinh tế là yêu cầu về tiến bộ xã hội. Tăng trưởng kinh tế mà đời sống tinh thần, đạo đức xuống cấp sẽ đe dọa ngay đến sự phát triển bền vững của kinh tế.

    Yếu tố khách quan của cuộc sống đặt ra là tăng trưởng kinh tế phải đi liền với tiến bộ xã hội. Tiến bộ xã hội là kết quả nhưng đồng thời cũng là động lực, yếu tố nội tại của sự phát triển kinh tế.

    Tăng trưởng kinh tế phải đi cùng với sự ổn định về chính trị và về xã hội. Chính sự ổn định trên các lĩnh vực này lại là tiền đề để phát triển kinh tế.

    Phát triển kinh tế mà không bảo đảm các xu hướng phát triển này tất yếu sẽ dẫn đến đổ vỡ. Nhà nước tư sản với bản chất là đại diện và bảo vệ quyền lợi chủ yếu cho một nhóm người, mà trước hết là giới chủ sẽ không bao giờ bảo đảm được tuyệt đối sự phát triển của các xu hướng đó.

    Để làm được điều này, nền kinh tế đó phải chịu sự chi phối của một nhà nước thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

    Chỉ có nhà nước đó mới bảo đảm được lợi ích của đại đa số nhân dân lao động, mới định hướng vào sự phát triển của từng cá nhân, đồng thời là sự phát triển của tập thể, cộng đồng và xã hội.

    Và, để bảo đảm được lợi ích của đại đa số nhân dân lao động, kinh tế nhà nước, chủ yếu dựa trên chế độ sở hữu toàn dân mà Nhà nước là đại diện phải giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế đó.

    Đây cũng thể hiện rõ bản chất, đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hoàn toàn khác với kinh tế thị trường ở các nước tư bản chủ nghĩa, được xây dựng trên cơ sở sở hữu tư bản độc quyền.

    Bên cạnh đó, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước còn có những ý nghĩa sau đối với kinh tế Việt Nam:

    Thứ nhất, là đầu tàu, hướng dẫn, dẫn dắt các hình thức sở hữu khác trong việc phát triển các lĩnh vực đặc biệt, như các lĩnh vực cần nhiều vốn đầu tư, có hàm lượng khoa học cao, một số lĩnh vực đặc biệt mới hình thành.

    Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, ngày càng xuất hiện nhu cầu hình thành một số lĩnh vực mới đòi hỏi vốn đầu tư lớn, công nghệ cao mà tự nó rất khó phát triển.

    Trong điều kiện các quan hệ thị trường mới được phát triển, khu vực tư nhân còn nhỏ bé, chưa có khả năng đầu tư lớn, khu vực sở hữu nhà nước tất yếu phải đảm nhận vai trò đầu tàu, dẫn dắt trong những lĩnh vực mới này.

    Khi thực hiện vai trò này, không có nghĩa là sở hữu nhà nước giữ vai trò thống trị độc quyền vĩnh viễn mà vai trò đầu tàu, dẫn dắt thể hiện ở chỗ, khi các hình thức sở hữu khác đủ sức tham gia và có khả năng tham gia có hiệu quả, nhà nước kịp thời rút vốn ra khỏi lĩnh vực đã đầu tư, để tiếp tục thực hiện vai trò của mình trong việc đầu tư vào những lĩnh vực mới khác.

    Thứ hai, bảo đảm phát triển năng lực cạnh tranh của quốc gia. Do lịch sử phát triển, kinh tế nhà nước đã đảm nhận một loạt ngành cạnh tranh.

    Khi khu vực tư nhân chưa kịp phát triển, Nhà nước phải trực tiếp tham gia và đầu tư phát triển, hỗ trợ các doanh nghiệp đầu đàn trong giai đoạn đầu.

    Khi khu vực tư nhân lớn mạnh dần, kinh tế nhà nước dần dần rút hoặc chuyển đổi sở hữu và về lâu dài, kinh tế nhà nước có thể không cần giữ vai trò chủ đạo ở lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh.

    Thứ ba, đối với an ninh quốc gia, kinh tế nhà nước thể hiện vai trò chủ đạo ở hai nội dung cơ bản sau:

    2- Tham gia nắm giữ một số vị trí thiết yếu, quan trọng để giữ vững định hướng xã hội, làm đối trọng trong hội nhập kinh tế quốc tế, bán buôn lương thực, xăng dầu, sản xuất điện, khai thác khoáng sản quan trọng một số sản phẩm cơ khí, điện tử, công nghệ thông tin quan trọng; bảo trì đường sắt, sân bay.

    3- về mặt xã hội, do bản chất về mặt sở hữu và mục đích hoạt động, kinh tế nhà nước có vai trò quan trọng trong gánh vác chức năng xã hội.

    Vai trò này thể hiện ở chỗ, kinh tế nhà nước phải đảm nhận những ngành ở những địa bàn khó khăn có ý nghĩa chính trị – xã hội mà tư nhân không muốn đầu tư, thực hiện sự bảo đảm cân bằng về đầu tư phát triển theo vùng, miền, đảm nhận các ngành sản xuất hàng hóa công cộng thiết yếu, thực hiện các chính sách an sinh xã hội, các chương trình xóa đói, giảm nghèo.

    ‌Vai trò của kinh tế nhà nước ở các nước tư bản phát triển

    Ngay ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa, khu vực kinh tế nhà nước cũng có vai trò quan trọng và tùy theo chiến lược quản lý của từng quốc gia, khu vực này có phạm vi và tỷ trọng khác nhau.

    Tuy nhiên, sự nhận thức về vị trí, vai trò của khu vực kinh tế nhà nước có những bước thăng trầm khác nhau. Vai trò của kinh tế nhà nước bắt đầu được coi trọng từ sau cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933, đặc biệt nhận thức về khu vực này rõ nhất vào giai đoạn từ thập niên 70 của thế kỷ XX – thời kỳ ảnh hưởng của các lý thuyết “Phúc lợi quốc gia”, “Nền kinh tế thị trường xã hội”…

    Ở giai đoạn này, nhiều nước bên cạnh việc chấp nhận tăng cường trách nhiệm của nhà nước đối với xã hội và chủ trương đẩy mạnh sự can thiệp của nhà nước vào thị trường thông qua các hình thức và công cụ thông thường của nhà nước, ban hành pháp luật, điều tiết kinh tế, kiểm tra, kiểm soát, còn thông qua nhà nước trực tiếp sở hữu một khối lượng khổng lồ cơ sở vật chất, sử dụng tài chính, tác động vào những lĩnh vực dịch vụ mà trước đây do xã hội tự giải quyết theo cơ chế thị trường…

    Về quy mô, trên thực tế ở các nước này, sở hữu nhà nước rất lớn, bao gồm 4 mảng chính:

    1- Sở hữu nhà nước về đất đai, tài nguyên, hệ thống giao thông

    2- Các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp hỗn hợp có cổ phần nhà nước chi phối

    3- Tài chính nhà nước theo nghĩa rộng nó bao gồm toàn bộ phần thu nhập quốc dân huy động vào ngân sách nhà nước, còn theo nghĩa hẹp, nó chỉ bao gồm các chi tiêu có tính chất kinh tế để đầu tư phát triển hoặc chi tiêu cho các dịch vụ công cộng.

    4- Các tổ chức cung ứng dịch vụ công cộng, như trường học, bệnh viện, thư viện, công trình thể thao, văn hóa…Nhiều nước có sử dụng khu vực tư nhân đầu tư vào kết cấu hạ tầng giao thông theo hình thức BOT nhưng sau thời hạn khai thác, các công trình này đều chuyển giao về sở hữu nhà nước.

    Mặc dù Mỹ tự coi mình là nền kinh tế thị trường tự do, nhưng toàn bộ sở hữu nhà nước ở Mỹ vào cuối thập niên 80 chiếm 20% tổng tài sản quốc gia.

    Tỷ trọng chi ngân sách của Chính phủ Mỹ trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của nước này đã tăng từ 26,8% năm 1960 lên 41,3% năm 2010.

    Giai đoạn khủng hoảng kinh tế, tài chính toàn cầu 2008 – 2009, Chính phủ Mỹ đã sử dụng công cụ kinh tế của mình bằng cách chi tới 700 tỷ USD để cứu vãn nền tài chính quốc gia thông qua mua lại các khoản nợ xấu của ngân hàng, kích thích tài chính, thúc đẩy tăng trưởng,…

    Ở một số nước G7 khác, tỷ trọng sở hữu nhà nước còn cao hơn, đều ở mức khoảng 30% tổng tài sản quốc gia. Riêng về đất đai, quy mô sở hữu nhà nước ở các nước phương Tây là rất lớn.

    Đặc biệt, kinh tế nhà nước ở các nước tư bản có vai trò quan trọng trong cung ứng dịch vụ công, giao thông, công viên, bảo đảm an ninh công cộng,

    Chẳng hạn với nước Anh vốn được coi là nơi khai sinh của lý thuyết kinh tế thị trường tự do và là một trong những nơi đầu tiên chấp thuận cho tư nhân tham gia phát triển kết cấu hạ tầng công cộng.

    Nhưng đến năm 2021, Chính phủ Anh đã quyết định dừng hẳn các dự án về kết cấu hạ tầng tư nhân hóa với lý do các dự án công có tư nhân tham gia tốn phí hơn so với các dự án công chỉ do nhà nước thực hiện.

    Như vậy, có thể thấy, ngay ở các nước tư bản có nền kinh tế thị trường phát triển cao, kinh tế nhà nước nói chung và doanh nghiệp nhà nước nói riêng vẫn có vai trò rất quan trọng, là một trong những công cụ quản lý vĩ mô giúp khắc phục những khuyết tật của kinh tế thị trường.

    Mức độ, phạm vi khu vực kinh tế nhà nước, doanh nghiệp nhà nước không cố định mà được xác lập trên cơ sở yêu cầu của việc phát triển kinh tế – xã hội.

    alonhatro

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Cơ Cấu Lợi Ích Kinh Tế Trong Các Thành Phần Kinh Tế Ở Nước Ta
  • Vài Suy Nghĩ Về Vai Trò Của Kinh Tế Nhà Nước
  • Giá Trị Và Lợi Ích Của Kiểm Toán Nhà Nước
  • Cơ Cấu Kinh Tế Nhiều Thành Phần Là Gì? Vai Trò
  • Giá Trị Và Vai Trò Của Rừng Đối Với Nền Kinh Tế Quốc Dân
  • Các Cơ Cấu Lợi Ích Kinh Tế Trong Các Thành Phần Kinh Tế Ở Nước Ta

    --- Bài mới hơn ---

  • Tại Sao Kinh Tế Nhà Nước Giữ Vai Trò Chủ Đạo
  • Phân Tích Tính Tất Yếu Khách Quan Và Lợi Ích Của Sự Phát Triển Kinh Tế Thị Trường Ở Việt Nam
  • Phát Triển Kinh Tế Chia Sẻ: Lợi Ích Nhiều Mặt
  • Phát Triển Kinh Tế Phải Từ Lợi Ích Của Người Dân
  • Luận Văn Tiểu Luận Lợi Ích Của Việc Thu Hút Fdi Với Sự Phát Triển Kinh Tế Ở Việt Nam Và Giải Pháp Nhằm Cải Thiện Môi Trường Đầu Tư Nước Ngoài Tại Việt Nam Để Vừa Thu Hút Được Vốn Nước Ngoài Vừa Bảo Hộ Được Các Nhà Đầu Tư Trong Nước Và Đảm Bảo Vốn Cạnh Tranh
  • Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta đang tồn tại nhiều thành phần kinh tế với sự đa dạng các hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất và đa dạng các hình thức tổ chức sản xuất-kinh doanh.Đại hội lần thứ IX của Đảng đã xác định: ở nứơc ta hiện nay có 6 thành phần kinh tế.Đó là:

    +Kinh tế tập thể: Có thể nói các hợp tác xã(HTX) được thành lập và tồn tại mấy chục năm qua được hình thành trên cơ sở tập thể hoá các tư liệu sản xuất mang tính phong trào và được nền kinh tế xã hội chủ nghĩa bao cấp, nuôi dưỡng đến nay hầu như bị tan rã hoặc đang đứng trước nguy cơ tan rã. Các hợp tác xã nông nghiệp và thương nghiệp, dịch vụ hầu như đã biến dạng và biến mất hoàn toàn.

    Riêng trong nông nghiệp các HTX hay các tập đoàn sản xuất(TĐSX) diễn ra theo hai xu hướng sau:

    – Phần lớn các HTX va TĐSX được thành lập trước đây đã bị tan rã và giải thể .

    – Số còn lại tồn tại chủ yếu mang tính chất hình thức làm dịch vụ phục vụ, thúc đẩy kinh tế hộ gia đình phát triển.

    Dĩ nhiên, cùng với sự tan rã và giải thể hàng loạt của các HTX và các TĐSX trong cả nông nghiệp, công nghiệp thương nghiệp và dịch vụ theo mô hình cũ là sự hình thành những loại hình hợp tác kiểu mới đa dạng ra đời một cách khách quan do yêu cầu của đời sống và sản xuất xã hội. Loịa hình hợp tác này được hình thành trên cơ sở các thành viên xã viên tự nguyện tham gia và đóng góp cổ phần trên nguyên tắc cùng có lợi , lời ăn, lỗ chịu. Trong công nghiệp, thương nghiệp và dịch vụ nó mang tên Tổ hợp sản xuất, công ty… tuỳ theo tính chất và quy mô, còn trong nông nghiệp nó được hình thành và hiện còn ở dạng quy mô hợp tác nhỏ.

    Các quan hệ kinh tế của các HTX và TĐSX trước đây gắn liền với nhà nước, còn các quan hệ kinh tế của các công ty , các hợp tác xã mới được hoạt động mấy năm qua gắn liền với cơ chế thị trường.

    HTX và TĐSX trước đây là một bộ phận của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, quy định bởi nhà nước và vận động theo xu hướng chung đó. Còn kinh tế hợp tác hiện nay là hình thức liên kết tự nguyện của những người lao động, người sản xuất nhỏ, dưới các hình thức hết sức đa dạng , được Đảng và nhà nước ta coi là một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, cùng với kinh tế nhà nước dần dần trở thành nền tảng của nền kinh tế .Chỉ thị ngày 24-5-1996 của Ban bí thư TƯ Đảng về phát triển kinh tế hợp tác chỉ rõ: ” Nhà nước tôn trọng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh của HTX, không can thiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX”. Tuy nhiên, nhà nước khuyến khích phát triển mọi hình thức kinh tế hợp tác , có các chính sách ưu đãi , hỗ trợ HTX về đất đai, thuế tín dụng , đầu tư, xuất nhập khẩu, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ …

    Trong điều kiện vừa được nhận sự ưu đãi , hỗ trợ từ nhà nước , vừa được hoàn toàn độc lập tự chủ trong sản xuất kinh doanh, kinh tế tập thể hiện nay vận động theo xu hướng khác nhau , vừa bị quy định bởi cơ chế thị trường , vừa phụ thuộc vào xu hướng chung của các thành viên tham gia hợp tác.

    Đối với kinh tế tập thể, nhà nước với các chức năng của mình, nhất là chức năng hành pháp và kinh tế , thông qua các luật doanh nghiệp, đầu tư…,các chính sách thuế , chính sách bảo trợ sản xuất, các dịch vụ kỹ thuật ,cung ứng vật tư, tiêu dùng sản phẩm và ngân hàng, tín dụng…, trong những chừng mực nhất định, những phạm vi và quy mô nhất định có thể định hướng điều chỉnh sự vận động và phát triển của kinh tế tập thể theo định hướng xã hội chủ nghĩa . Dĩ nhiên, đó là sự điều tiết ở tầm vĩ mô. Chắc chắn rằng trong tương lai thành phần kinh tế tập thể sẽ cùng với thành phần kinh tế nhà nước trở thành nền tảng của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa mà Đảng ta chủ trương.

    .+Kinh tế tư bản nhà nước : Đó là thành phần kinh tế mới xuất hiện từ khi ta thực hiện công cuộc đổi mới đất nước. Có thể kể 2 loại hình chủ yếu của kinh tế hỗn hợp giữa nhà nước và tư nhân này là: liên doanh và hợp doanh, giữa nhà nước và tư bản nước ngoài; và liên doanh, hợp doanh, hỗn hợp , giữa nhà nước và doanh nghiệp trong nước và tư bản nước ngoài.

    Hiện nay , 70-75% các dự án liên doanh với các nhà tư bản nước ngoài đều có quy mô trên dưới 7 triệu USD . Điều đó chứng tỏ các công ty nước ngoài đầu tư vào Việt Nam giai đoạn đầu này phần lớn mới chỉ là công ty nhỏ, vốn ít, tìm kiếm cơ hội có thể mang lại lợi nhuận ngay và thu hồi vốn nhanh. Do vậy, chưa có các dự án tầm cỡ đầu tư vào các ngành công nghiệp nặng và kinh tế mũi nhọn. Thu hút các nhà đầu tư giai đoạn hiện nay phần nhiều là điện tử, sản xuất hàng tiêu dùng, dịch vụ, du lịch, khách sạn và ngân hàng.

    Trong những năm vừa qua, các nhà đầu tư vào Việt Nam gặp không ít khó khăn nhất là thủ tục hành chính môi trường đầu tư…Vì vậy, muốn thu hút các dự án lớn cần trước hết làm trong sạch môi trường đầu tư cũng như ban hành và thực thi pháp luật nghiêm minh, đồng bộ và bình đẳng .

    Dù nhà nước là đồng tác giả nhưng thành phần kinh tế tư bản nhà nước vẫn tuân theo những quy luật thép của kinh tế thị trường. ở đây xu hướng phát triển của các doanh nghiệp liên doanh này sẽ phụ thuộc vào chủ thể bỏ vốn đâù tư nhiều hơn trên 50% . Nếu phía nhà nước đầu tư phía đối tác bên ngoài góp vốn lớn hơn thì dù nhà nước có tham gia điều tiết ở cả tầm vĩ mô và vi mô như thế nào chăng nữa thì xu hướng vận động tự nhiên của nó cũng vẫn nghiêng về con đường phát triển tư bản chủ nghĩa.

    Ngoài ra còn có:

    +Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

    +Kinh tế nhà nước.

    +Kinh tế cá thể,tiểu chủ.

    +Kinh tế tư bản tư nhân

    Như vậy,trên một góc độ nào đấy(dựa vào các mối quan hệ kinh tế trực tiếp chẳng hạn) ta có thể thấy được 6 cơ cấu các lợi ích kinh tế,đó là:

    _Thành phần kinh tế nhà nước có lợi ích của Nhà nước(xã hội);lợi ích tập thể;lợi ích cá nhân người lao động.

    _Thành phần kinh t ế tập thể có lợi ích tập thể; lợi ích xã hội;lợi ích cá nhân.

    _Thành phần kinh tế tư bản nhà nước có lợi ích của doanh nghiêp;lợi ích của xã hội;lợi ích của cá nhân người lao động.

    _Thành phần kinh tế cá thể,tiểu chủ có lợi ích cá nhân,lợi ích xã hội.

    Thành phần kinh tế tư bản tư nhân có:lợi ích chủ doanh nghiệp;lợi ích cá nhân người lao động;lợi ích xã hội.

    _Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có lợi ích của nhà đầu tư nước ngoài;lợi ích của nước chủ nhà; lợi ích của người lao động trong các doanh nghiêp liên doanh.

    Trong các cơ cấu lợi ích kinht ế ấy,thì lợi ích kinh tế nhà nước(xã hội)giữ vai trò”hàng đầu”và là cơ sở để thực hiện các lợi ích khác,còn lợi ích kinh tế của người lao động là quan trọng,nó thể hiện như là động lực trực tiếp thúc đẩy người lao động.

    Trong nền kinh tế thị trường,mỗi cá nhân,doanh nghiệp. Chỉ hành động khi họ thấy đựơc lợi ích kinh tế của mình mà không cần thuyết phục hoặc cưỡng bức.Song,vì có nhiều lợi ích kinh tế khác nhau và vì lợi ích riêng của mỗi cá nhân,vì lợi ích cục bộ,trước mắt có thể làm tổn hai đến lợi ích chung của cộng đồng(tập thể và xã hội).Do đó,nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam với tư cách là người tổ chức cán bộ quản lý và điều hành nền kinh tế vĩ mô phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa các lợi ích kinh tế và hướng chúng vào một quỹ đạo chung,tạo động lực lâu bền,mạnh mẽ và vững chắc cho sự phát triển.

    Giải quyết mối quan hệ giữa các lợi ích kinh tế là một vấn đề khá phức tạp và giữ vị trí quan trọng trong việc nghiên cứu nguồn gốc,động lực phát triển xã hội nói chung,phát triển kinh tế thị trường nói riêng.Theo Ph.Angghen,”ở đâu không có lợi ích chung,ở đó không có sự thống nhất về mục đích”.Quá trình giải quyết mối quan hệ giữa các lợi ích kinh tế là tạo ra các điều kiện trong đó việc thực hiện các lợi ích sao cho cùng một hướng và đảm bảo tính hàng đầu của lợi ích xã hội,cái có lợi đối với xã hội thì phải có lợi ích đối với tập thể, cá nhân và mỗi doanh nghiệp. Đó là nguyên tắc của sự kết hợp kinh tế trong nền kinh tế thị trường.

    Giải quyết tốt mối quan hệ giữa các lợi ích kinh tế phải tính đến sự đan chéo ,chế ước, tác động qua lại giữa các lợi ích kinh tế, đồng thời phải tính toán, một cách toàn diện ,đảm bảo lợi ích trước mắt ,lâu dài, lợi ích toàn bộ,bộ phận.

    Ở nứơc ta hiện nay,sự kết hợp các lợi ích kinh tế nhằm tạo ra động lực thúc đẩy mục tiêu:dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,dân chủ ,văn minh.Hướng các lợi ích vào quỹ đạo chung và sự kết hợp chúng nhằm tạo ra động lực cho sự phát triển bằng cách:

    _ Với chức năng tổ chức kinh tế,nhà nước ta động viên mọi người,mọi lực lượng,mọi thành phần kinh tế,thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế 2001-2010.

    _ Xác định về lượng của mỗi loại lợi ích kinh tế và quan hệ tỷ lệ về mặt lượng giữa các loại lợi ích kinh tế (đây là vấn đề phức tạp) có thể và cần thực hiện bằng các hình thức kinh tế thể hiện ở một số chính sách kinh tế của nhà nước:tiền lương,chính sách giá cả,thị trường,tín dụng,thuế,phân phối lợi nhuận,….

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vài Suy Nghĩ Về Vai Trò Của Kinh Tế Nhà Nước
  • Giá Trị Và Lợi Ích Của Kiểm Toán Nhà Nước
  • Cơ Cấu Kinh Tế Nhiều Thành Phần Là Gì? Vai Trò
  • Giá Trị Và Vai Trò Của Rừng Đối Với Nền Kinh Tế Quốc Dân
  • Chương 2: Hiệu Quả Tài Chính Chuong2 Hieuqua Ppt
  • Đặc Khu Kinh Tế Là Gì ? Lợi Ích Của Đặc Khu Kinh Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Mối Quan Hệ Giữa Lợi Ích Cá Nhân Và Đạo Đức Xã Hội Trong Nền Kinh Tế Thị Trường Ở Việt Nam Hiện Nay.
  • Thực Tiễn Phát Triển Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn Ở Nước Ta
  • Cạnh Tranh Của Doanh Nghiệp Trong Nền Kinh Tế Thị Trường
  • Tài Liệu Lợi Ích Quân Nhân Trong Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Tính Đặc Thù Của Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam
  • Trong chúng ta hẳn ai cũng đã từng nghe ít nhất một lần cụm từ “đặc khu kinh tế”. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết đặc khu kinh tế là gì, lợi ích của nó ra sao, trên thế giới và ở Việt Nam có những đặc khu kinh tế nào. Do vậy, bài viết sau đây chúng tôi giúp bạn đọc hiểu rõ hơn điều đó.

    Đặc khu kinh tế trong tiếng Anh nghĩa là Special Economic Zones – SEZ, đây là các khu vực kinh tế được thành lập trong một quốc gia với mục đích thu hút nguồn đầu tư trong và ngoài nước bằng những biện pháp khuyến khích đặc biệt.

    Sử dụng thuật ngữ đặc khu kinh tế để chỉ những khu vực kinh tế tại nơi ấy. Những công ty sẽ không bị đánh thuế hoặc bị đánh thuế nhưng với mức độ nhẹ khi đầu tư vào nơi này, mục đích là để khuyến khích hoạt động kinh tế phát triển hơn.

    Đặc khu kinh tế được xác định riêng tùy theo mỗi quốc gia khác nhau. Theo ngân hàng thế giới vào năm 2008, đặc khu kinh tế là khu vực được giới hạn về mặt địa lý và nó thường được đảm bảo về mặt vật lý, nghĩa là có rào chắn, có người quản lý, điều hành.

    Ngoài ra, nó còn được nhận các lợi ích dựa trên vị trí thực tế trong khu vực như lợi ích miễn thuế, thủ tục đơn giản,…

    Cuối năm 1950, những đặc khu kinh tế SEZ bắt đầu xuất hiện tại các nước công nghiệp. Đầu tiên nhất là ở sân bay Sannon tại Clare, Ireland. Còn tùy vào mỗi quốc gia khác nhau mà các đặc khu kinh tế sẽ có những tên gọi khác nhau như sau:

    • Khu thương mại tự do FTZ
    • Khu chế xuất EPZ
    • Khu kinh tế tự do FZ
    • Khu công nghiệp IE
    • Cảng tự do Free Ports

    Những biện pháp khuyến khích đặc biệt hay được áp dụng tại các đặc khu kinh tế nhằm thu hút đầu tư cụ thể như sau:

    • Tạo nên môi trường kinh doanh thuận lợi, miễn giảm thuế, đơn giản hóa các thủ tục, những chính sách linh hoạt về người lao động.
    • Các hạ tầng tiện lợi, tạo điều kiện sống thật tốt cho người làm việc ở trong đặc khu kinh tế.
    • Tại các vị trí chiến lược gắn liền với cảng biển, cảng hàng không quốc tế,…
    • Các hỗ trợ và ưu đãi khác.

    Đặc khu kinh tế được tạo nên thúc đẩy công nghiệp hóa, tăng trưởng kinh tế bền vững. Lợi ích mà đặc khu kinh tế mang lại như sau:

    • Giải quyết công ăn việc làm cho người lao động của địa phương và nguồn lao động ở các khu vực lân cận.
    • Thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ.
    • Phát triển cơ sở hạ tầng tại khu vực này
    • Tránh tình trạng thuế tràn lan

    So sánh các đặc khu kinh tế và khu công nghiệp thông thường

    Thời gian thuê đất

    Tối đa 99 năm

    Tối đa 50 năm

    Thuế thu nhập cá nhân

    ● Miễn thuế TNCN trong 5 năm.

    ● Giảm 50% thuế TNCN trong các năm tiếp theo

    Theo luật định

    Thuế thu nhập doanh nghiệp

    10% trong 30 năm

    20% ưu đãi về thuế tùy theo chính sách từng địa phương khác nhau.

    Tổ chức chính quyền

    ● Không có hội đồng nhân dân.

    ● Trưởng đặc khu là do thủ tướng bổ nhiệm.

    Ban quản lý khu kinh tế – khu công nghiệp trực thuộc tỉnh UBND thành phố bổ nhiệm.

    Sở hữu nhà với người nước ngoài

    ● Tự do mua bán nhà với người có thời gian lao động trên 3 tháng.

    ● Thời hạn vĩnh viễn đối với nhà ở biệt thự.

    ● 99 năm với chung cư.

    Tối đa 50 năm

    Casino

    Người Việt vào chơi Casino

    Người Việt chỉ chơi Casino với các điều kiện trong thời gian thí điểm 3 năm.

    Đặc khu kinh tế của có luật riêng biệt. Dự thảo luật đặc khu kinh tế là do Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư Việt Nam chủ trì xây dựng, nó được gọi tắt là Dự thảo Luật Đặc Khu.

    Dự thảo Luật đặc khu đã được chính phủ quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp thứ 4 vào tháng 10 năm 2021, được tiếp thu chỉnh lý và trình tiếp vào kỳ họp thứ 5.

    Song đến ngày 9/6/2018 chính phủ ở nước ta đã thông báo đề nghị ủy ban thường vụ Quốc Hội Việt Nam lùi việc thông qua Dự án Luật Đặc khu sang kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa 14 (tháng 10 năm 2021) để có thêm thời gian nghiên cứu.

    Ngày 11 tháng 6 năm 2021 Quốc hội đã cho ý kiến về việc rút nội dung biểu quyết thông qua Dự án Luật Đặc Khu.

    Kết quả biểu quyết 423 đại biểu tán thành rút trong tổng số 432 đại biểu tham gia biểu quyết ( tổng số đại biểu Quốc hội là 487.55 đại biểu không tham gia biểu quyết) chiếm tỉ lệ 87.45%.

    Các đặc khu kinh tế trên thế giới

    Hiện nay trên thế giới có trên 4300 khu kinh tế tự do ở hơn 140 quốc gia.

    Đặc khu kinh tế ở Việt Nam

    Ở Việt Nam có tổng cộng ba đặc khu kinh tế bao gồm Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc. Dự kiến những đặc khu này sẽ tạo sức hút cực kỳ lớn của các nhà đầu từ trong và ngoài nước.

    Theo ước tính của Bộ Tài chính, ba đề án đặc khu kinh tế cần khoảng 70 tỉ USD, tức là khoảng 1.57 triệu tỉ đồng, Vân Đồn cần 270 ngàn tỉ (2018 đến 2030), Bắc Vân Phong 400 ngàn tỉ (2019 đến 2025) và cuối cùng Phú Quốc là 900 ngàn tỉ (2016 đến 2030).

    khu kinh tế Phú Quốc – Kiên Giang

    Ngày 22/5/2013 Thủ Tướng Chính Phủ Việt Nam đã ra quyết định 31/2013/QD-TTg về việc thành lập khu kinh tế Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Khu kinh tế Phú Quốc chính thức được thành lập khi quyết định này có hiệu lực từ ngày 10 tháng 7 năm 2013.

    Theo quy hoạch tổng thể đến năm 2030 sửa đổi, Phú Quốc sẽ có thêm 3 khu đô thị lớn, 15 khu du lịch sinh thái, 2 khu du lịch phức hợp 5 sân golf. Theo dự kiến, Phú Quốc sẽ trở thành đặc khu kinh tế vào năm 2021.

    Đặc khu kinh tế Vân Đồn Quảng Ninh

    Đặc khu kinh tế Vân đồng chính là khu kinh tế ở miền Bắc Việt Nam được thành lập vào năm 2007 với mục tiêu trở tâm một trung tâm sinh thái biển đảo chất lượng cao, dịch vụ chất lượng.

    Không những vậy, nơi đây còn đặt mục tiêu trở thành trung tâm hàng không, đầu mối giao thương quốc tế, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế của tỉnh Quảng Ninh.

    Khu kinh tế Vân Đồn bao gồm một khu phi thuế quan và một khu thuế quan có diện tích rộng 2.200km. Trong đó diện tích của đất là 551.33km2 và vùng biển rộng 1620k2.

    Đặc khu kinh tế bắc Vân Phong – Khánh Hòa

    Được thành lập vào năm 2005, đặc khu kinh tế Bắc Phong Vân được đặt mục tiêu trở thành mộ hạt nhân tăng trưởng kinh tế, trung tâm đô thị, công nghiệp, dịch vụ, du lịch của khu vực Nam Trung bộ.

    Đây chính là một đặc khu kinh tế tổng hợp lấy khu cảng trung chuyển container quốc tế làm chủ đạo. Có một khu phi thuế quan và một khu thuế quan ngăn cách nhau bằng tường rào.

    Đặc khu kinh tế Bắc Vân Phong với diện tích hơn 1500km2, trong đó có phần biển rộng 800km2. Lợi thế của nó là cảng nước sâu Đầm Môn, nó có thể tiếp nhận tàu 200 DWT ra vào dễ dàng, giao thông tiện lợi do nằm trên giao lộ Bắc Nam và Tây Nguyên.

    Các đặc khu kinh tế khác trên thế giới

    với tổng cộng 10 đặc khu kinh tế

    • Khu kinh tế đặc biệt Visakhapatnam
    • Khu kinh tế đặc biệt Kandla
    • Khu kinh tế đặc biệt Surat
    • Khu kinh tế đặc biệt Cochin
    • Khu kinh tế đặc biệt Indore
    • Khu kinh tế đặc biệt SEEPZ
    • Khu kinh tế đặc biệt Jaipur
    • Khu kinh tế đặc biệt Madras
    • Mahindra City, Chennai
    • Khu kinh tế đặc biệt Noida

    Bắc Triều Tiên

      Khu kinh tế tự do Iquique

      Khu kinh tế tự do Poti, khu kinh tế tự do Samegrelo

    • Khu kinh tế tự do Incheon
    • Khu kinh tế tự do Busan-Jinhae
    • Khu kinh tế tự do Gwangyang
    • Khu kinh tế tự do Daegu
    • Khu kinh tế tự do Hoàng Hải
    • Khu tự do Kish
    • Khu tự do Aras
    • Khu tự do Anzali
    • Khu tự do Arvand
    • Khu tự do Chabahar
    • Khu tự do Gheshm

    Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất

    • Khu tự do Jebel Ali
    • Thành phố Internet Dubai
    • Thành phố Truyền thông Dubai
    • Làng Tri thức Dubai
    • Thành phố Y tế Dubai
    • Trung tâm Tài chính Quốc tế Dubai
    • Khu DuBiotech
    • Khu Outsource Dubai
    • Khu Sản xuất và Truyền thông Quốc tế
    • Thành phố Studio Dubai
    • Khu kinh tế tự do Nakhodka
    • Khu kinh tế tự do Ingushetia
    • Khu kinh tế tự do Yantar, khu kinh tế tự do Kaliningrad
      Khu thương mại tự do đặc biệt Okinawa

    Philippines

    • Khu cảng tự do vịnh Subic
    • Khu kinh tế đặc biệt Clark
    • Đặc khu kinh tế Thâm Quyến
    • Đặc khu kinh tế Sán Đầu
    • Đặc khu kinh tế Chu Hải
    • Đặc khu kinh tế Hạ Môn
    • Đặc khu kinh tế Hải Nam
    • Khu vực Phố Đông của Thượng Hải thực chất cũng là một khu kinh tế tự do, dù tên gọi của nó không phải như vậy và cũng không phải là đặc khu kinh tế.
      Cảng biển thương mại Odessa

    Những bài học thành công và thất bại của đặc khu kinh tế

    Những bài học thành công của đặc khu kinh tế

    Trong số các đặc khu kinh tế thế giới thành công nhất phải kể đến chính là Thâm Quyến của Trung Quốc. Được thành lập vào năm 1980 từ một làng chài với 30 ngàn người dân, hiện nay Thẩm Quyến đã trở thành một trung tâm công nghệ tài chính tầm cỡ thế giới.

    Đến năm 2021, Thâm Quyến với dân số lên đến 12 triệu người và có 3 triệu doanh nghiệp đăng ký hoạt động. Năm 2021, GDP của Thâm Quyến đạt gần 340 tỷ USD nhờ các ngành công nghệ cao bùng nổ như internet, công nghệ sinh học và viễn thông.

    Bên cạnh mô hình đặc khu của Trung Quốc, mô hình đặc khu của Hàn Quốc cũng rất thành công, nó kết nối chặt chẽ với nền kinh tế ở trong nước.

    Chính phủ của quốc gia này cũng đã đầu tư hàng tỷ USD nhằm xây dựng kết cấu hạ tầng hỗ trợ các đặc khu, hỗ trợ sự phát triển các ngành công nghệ cao, kinh tế quốc tế, giải trí và du lịch.

    Đặc khu kinh tế Incheon của Hàn Quốc được đánh giá là thành phố có tiềm năng phát triển lớn thứ hai trên thế giới đến năm 2025.

    Đặc khu Jeju mang lại nguồn thu nhập khổng lồ cho địa phương (GDP đạt 12 tỷ USD, trong đó du lịch chiếm tỷ trọng 25%). Ngoài ra nơi đây còn tạo nên thương hiệu du lịch nổi tiếng cho Hàn Quốc.

    Kinh nghiệm từ các đặc khu kinh tế quốc tế thành công cho thấy nó cần phải phụ thuộc những yếu tố như sau:

    + Một là sự cam kết mạnh mẽ của chính phủ và chính quyền địa phương. Đây chính là yếu tố quan trọng hàng đầu để xây dựng niềm tin và thu hút các nhà đầu tư.

    + Hai là chính sách riêng biệt, đặc khu kinh tế cần có thể chế hành chính vượt trội, chính quyền đặc khu kinh tế được giao quyền tự chủ cao về lập pháp, hành pháp, tư pháp, đặc biệt là quyền lập quy về kinh tế. Bộ máy quản lý hành chính tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả.

    Thủ tục hành chính đơn giản, công khai và minh bạch. Nhà nước chỉ can thiệp hành chính khi cần thiết nhằm đảm bảo được sự ổn định, cạnh tranh lành mạnh.

    Những đặc khu có quyền tự trị khá cao, đồng thời giải quyết được những vướng mắc tại đặc khu.

    + Ba là ưu đãi hấp dẫn. Nhằm thu hút nguồn lực vốn đầu tư trong và ngoài nước, các đặc khu kinh tế thường hay áp dụng nhiều biện pháp khuyến khích đặc biệt

    chẳng hạn như xây dựng môi trường kinh doanh lý tưởng, miễn giảm thuế, cho phép tự do trung chuyển hàng hóa, đơn giản hóa các thủ tục thành lập doanh nghiệp, thủ tục hải quan, tự do hóa các dòng chảy vốn đầu tư, lợi nhuận,…

    + Bốn là sự gắn kết chặt chẽ nền kinh tế trong nước cùng với thị trường toàn cầu. Và để làm được điều này đòi hỏi những chính phủ cần phải đầu tư phát triển

    hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, chính sách phát triển kinh tế của đặc khu phải có sự kết nối chặt chẽ, ảnh hưởng lan tỏa đến các vùng kinh tế địa phương trong nước.

    + Năm là phải xác định mục tiêu cụ thể, rõ ràng, phù hợp và hướng đến ngành nghề ưu tiên phát triển, có lợi thế so sánh vượt trội. Những ngành nghề thu hút đầu tư được điều chỉnh, cập nhật liên tục, bắt kịp với xu hướng

    phát triển của thế giới với công nghệ cao, thông minh và thân thiện với môi trường, đồng thời xác định được các đối tác chiến lược cụ thể để duy trì mức cạnh tranh cao của đặc khu, chẳng hạn như ở Trung Quốc, Hàn Quốc, UAE, Singapore.

    + Sáu là vị trí chiến lược. Đa phần các đặc khu kinh tế thành công là nhờ xây dựng tại các khu vực có vị trí địa lý kinh tế, chính trị chiến lược. Chẳng hạn như ở gần cảng biển quốc tế, các tuyến giao thông quan trọng của đất nước, kết nối dễ dàng với khu vực và quốc tế,…

    Nhờ vậy mà tạo điều kiện thuận lợi, tiềm năng phát triển toàn diện về kinh tế, xã hội, liền kề khu vực kinh tế phát triển và có khả năng thu hút nguồn vốn đầu tư,

    nhất là đầu tư nước ngoài, nguồn nhân lực. Chẳng hạn như đặc khu Thâm Quyến, Sán Đầu, Chu Hải của Trung Quốc, Incheon và Jeju của Hàn Quốc, Dubai của UAE.

    Những bài học thất bại của đặc khu kinh tế

    Châu Phi chính là bài học về sự thất bại của nhiều đặc khu kinh tế. Nguyên nhân là do sự thiếu kết nối hạ tầng giao thông, năng lượng cần thiết. Bên cạnh đó còn thiếu kế hoạch quản lý, chiến lược hiệu quả hay gặp những vấn đề bất ổn về chính sách trong nhà nước.

    Vào thập niên 90 của thế kỷ XX, chính phủ Nigeria đã rót khoản đầu tư cực lớn vào khu kinh tế tự do trọng điểm tại Calabar. Song, chỉ hơn một thập niên sau, chỉ còn một số công ty hoạt động tại đặc khu kinh tế.

    Còn ở Kenya, khu chế xuất sau gần 20 năm hoạt động, chỉ xuất khẩu được hơn 400 triệu USD năm 2008. Còn với khu kinh tế tự do tại Nigeria, Senegal và Tanazania thậm chí thấp hơn, với tỷ lệ đóng góp vào xuất khẩu cả nước rất hạn chế.

    Trong quá khứ, Ấn Độ cũng rất kỳ vọng vào các đặc khu kinh tế, song đến năm 2021 chỉ có khoảng gần 200 trên tổng số 560 đặc khu còn hoạt động. Trong đó, cũng có khá nhiều đặc khu không hoạt động hết công suất.

    Nguyên nhân dẫn đến thất bại của mô hình đặc khu kinh tế tại Ấn Độ là do thành lập tràn lan và áp dụng mức đãi thuế dài hạn, tỉ lệ ưu đãi lớn, điều này gây thất thu nguồn ngân sách quốc gia. Bên cạnh đó, thể chế kinh tế và hành chính của các đặc khu kinh tế của Ấn Độ về cơ bản không có sự vượt trội rõ rệt.

    Qua quá trình nghiên cứu đã chỉ ra nhiều nguyên tố dẫn đến thất bại của đặc khu kinh tế trên thế giới. Nó bao gồm việc vị trí không thuận lợi dẫn đến chi phí đầu tư kém, các chính sách thiếu tính cạnh tranh.

    phần lớn dựa vào thời gian miễn hay ưu đãi thuế, các chính sách lao động cứng nhắc, kết cấu hạ tầng của các đặc khu kinh tế chưa đáp ứng được yêu cầu của nhà đầu tư, sự phối hợp không chặt chẽ giữa doanh nghiệp tư nhân và chính phủ trong việc phát triển kết cấu hạ tầng cho đặc khu kinh tế.

    Bên cạnh đó còn có giá thuê và các dịch vụ mang tính bao cấp; mô hình quản lý và tổ chức bộ máy cồng kềnh,…

    Thông qua kinh nghiệm quốc tế cho thấy, trong quá trình phát triển đặc khu với sự can thiệp từ chính quyền trung ương sẽ giảm cơ hội thử nghiệm các ý tưởng táo bạo ở các đặc khu.

    Song, nếu trao quyền lực quá lớn cho đặc khu có thể xảy ra việc thiết lập các nhà nước bên trong nhà nước.

    Điều đáng quan ngại hơn là các khoản ưu đãi để thu hút nhà đầu tư theo kéo sự méo mó bên trong các nền kinh tế.

    Nếu không được quản lý chặt chẽ, các đặc khu trở thành nơi ẩn náu của hoạt động rửa tiền, chẳng hạn như việc lập các hóa đơn khống trong xuất khẩu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đánh Giá Hiệu Qủa Kinh Tế Và Xã Hội Của Dự Án
  • Lý Thuyết Thương Mại Mới
  • Lợi Thế Kinh Tế Nhờ Qui Mô (Economies Of Scale) Và Hạn Chế Của Lợi Thế Kinh Tế Nhờ Qui Mô
  • Lợi Thế Kinh Tế Nhờ Quy Mô (Economy Of Scale) Là Gì?
  • Hiệu Quả Kinh Tế Theo Quy Mô Là Gì?
  • Những Lợi Ích Của Đặc Khu Kinh Tế Phú Quốc Đối Với Nhà Đầu Tư

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Bổ Ích Của Những Chuyến Tham Quan, Du Lịch Đối Với Học Sinh
  • Ngành Công Nghiệp Không Khói Góp Phần Tăng Trưởng Và Phát Triển Kinh Tế
  • Vai Trò Của Ngành Du Lịch Đối Với Môi Trường
  • 3R Là Gì? Lợi Ích Của 3R Đối Với Môi Trường Là Gì?
  • Ảnh Hưởng Của Môi Trường Đến Sự Phát Triển Của Ngành Du Lịch
  • Trên thế giới hiện nay đã xuất hiện rất nhiều đặc khu kinh tế phát triển và có mức GDP khủng, đem lại giá trị kinh tế không chỉ cho khu vực đó mà còn cho cả đất nước có vùng đặc khu.

    Phú Quốc đang trên đã phát triển với nhiều dự án bất động sản hấp dẫn

    Khái niệm này cũng được áp dụng tại Việt Nam, tiêu biểu là đặc khu kinh tế Phú Quốc chuẩn bị sắp được công nhận. Tại huyện đảo này, các biện pháp khuyến khích đặc biệt thường được áp dụng để thu hút đầu tư vào đặc khu kinh tế Phú Quốc gồm có:

    + Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi (miễn giảm thuế, ít quy chế nhất có thể, chính sách linh hoạt về lao động)

    + Đẩy mạnh cơ sở hạ tầng tiện lợi, điều kiện sống thật tốt cho những người làm việc trong khu kinh tế này (dịch vụ giáo dục, dịch vụ y tế, vui chơi – giải trí, nghỉ dưỡng đạt đẳng cấp quốc tế)

    + Có vị trí địa lý chiến lược (gắn với cảng biển, cảng hàng không quốc tế, gần thị trường tiêu dùng lớn)

    Bên cạnh những đặc điểm trên để thành lập đặc khu thì còn có một số những ưu điểm khác khuyến khích nhà đầu tư như: mục tiêu kích thích phát triển kinh tế tại đảo và một số những ưu đãi nhỏ lẻ khác.

    Trong một khu kinh tế tự do có thể gồm nhiều khu chức năng như khu vực phi thuế quan (khu vực bảo thuế), khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, các tiểu khu du lịch, nghỉ dưỡng, giải trí, dịch vụ, …

    Không phải ngẫu nhiên mà nhiều nhà đầu tư đất Phú Quốc đều mong đợi và hi vọng hòn đảo này được trở thành đặc khu kinh tế. Một số đột phá của đặc khu kinh tế đối với nhà đầu tư chính là điểm thu hút và hấp dẫn nhà đầu tư.

    Phú Quốc sẽ có những đột phá mới khi lên đặc khu gồm có: đột phá về chính sách đầu tư, cơ sở hạ tầng, bộ máy hành chính.

    Đầu tiên là về cơ sở hạ tầng: Sau khi được Chính phủ thông qua việc lên Đặc khu kinh tế Phú Quốc, nguồn vốn lớn đầu tư vào các dự án cảng biển, sân bay, đường cao tốc,…sẽ tăng vọt.

    Đường giao thông được xây dựng nhanh chóng, cơ sở hạ tầng đồng bộ. Các tuyến đường bộ được xây dựng nhanh chóng và kết nối giao thông toàn đảo. Đường biển mở rộng, thu hút các chuyến tàu chở khách quốc tế tăng cao. Đường hàng không mở rộng thêm các đường bay đi các sân bay quốc tế trên các nước trong khu vực. Hệ thống đường cùng cống rãnh, các khu xử lý nước thải và rác thải hiện đại chắc chắn sẽ được xây dựng và đi và hoạt động.

    Những đột phá mới này giúp nhà đầu tư có thêm niềm tin, tin tưởng vào việc phát triển đầu tư của đảo.

    Về cơ quan hành chính: Đột phá trong việc lên đặc khu sẽ giúp Phú Quốc phát triển một bộ máy nhân sự riêng. Bộ máy này sẽ được tinh giảm gọn nhẹ để linh hoạt hơn trong giải quyết các vấn đề nội bộ trong đặc khu.

    Xem xét tới những lợi ích của Đặc khu kinh tế, chắc hẳn nhà đầu tư cũng đã nhìn ra được những tiềm năng lợi ích trong nó. Nếu tháng 5/2019 này Phú Quốc trở thành đặc khu kinh tế, tình hình đầu tư phát triển kinh tế hẳn là rất mạnh.

    Vấn đề miễn giảm thuế: Đây là đột phá có tác dụng rất quan trọng, là tiền đề để các nhà đầu tư đến Phú Quốc nhiều hơn. Theo đó, các công ty được miễn giảm thuế và được hỗ trợ kinh doanh tối đa tại Phú Quốc. Thêm đó, trong vòng 30 năm đầu kinh doanh thì doanh nghiệp hoạt động trên đảo chỉ phải đóng mức thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi khoảng 10%/năm.

    Thời gian thuê đất: Quốc hội đang dự tính thời gian thuê đất Phú Quốc khoảng tối đa lên đến 99 năm. Đây là một lợi thế đối với doanh nghiệp, nhà đầu tư khi mà thời gian thuê được lâu hơn, mức vốn bỏ ra ít hơn sẽ thúc đẩy dòng vốn nước ngoài chảy về.

    Khi Phú Quốc trở thành đặc khu kinh tế sẽ mang lại nhiều lợi ích cho các nhà đầu tư

    Lao động đặc khu: Khi Phú Quốc lên đặc khu, nhà đầu tư có thể dễ dàng tìm kiếm, xây dựng nguồn nhân lực trình độ cao. Lý do bởi vì: đặc khu là nơi nhiều người sinh sống, thu hút một lượng lớn lao động trẻ đến nhập cư. Do đó, tỷ lệ tìm được lao động có trình độ tốt rất cao.

    Thông tin về việc phát triển đặc khu kinh tế Phú Quốc

    Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý quy hoạch cho phép tỉnh Kiên Giang triển khai lập quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế xã hội hướng tới đảo Phú Quốc thành đặc khu kinh tế.

    Theo những định hướng triển khai, quy hoạch sử dụng đất của đảo Phú Quốc đến năm 2030 sẽ được điều chỉnh và phân bổ như sau:

    • Đất du lịch khoảng 4.003 ha;
    • Đất khu phức hợp du lịch, dịch vụ dân cư khoảng 3.325 ha;
    • Đất lâm nghiệp khoảng 37.430 ha (trong đó, đất rừng phòng hộ khoảng 6.666 ha);
    • Đất nông nghiệp khoảng 3.953 ha (trong đó, đất sản xuất nông nghiệp khoảng 2.719 ha, đất ở nông thôn làng nghề khoảng 1.234 ha);

    Khu đô thị Dương Đông đang được định hướng phát triển thành khu trung tâm của đảo Phú Quốc. Hiện nay đang được xây dựng hệ thống quảng trường, tượng đài Bác tại khu vực sân bay Dương Đông cũ. Cảng biển cũng được xây dựng tại Vịnh Đất Đỏ, chức năng dịch vụ kho xăng dầu cũng đang được xây dựng tại khu vực gần cảng biển này.

    Khu đất có chức năng dịch vụ du lịch giải trí phức hợp và sân golf quy mô diện tích 2.090 ha tại khu vực Đồng Cây Sao và Bắc sông Cửu Cạn, xã Cửa Cạn, huyện Phú Quốc trên cơ sở chuyển đổi chức năng 1.718 ha diện tích đất nông nghiệp và 372 ha đất rừng phòng hộ; bổ sung khu đất có chức năng du lịch nghỉ dưỡng, giải trí thể thao quy mô 142 ha tại phía Bắc rạch Vũng Bầu trên cơ sở chuyển đổi chức năng 142 ha từ đất nông nghiệp; điều chỉnh chức năng sân golf, quy mô 102 ha tại khu đất du lịch sinh thái Cửa Cạn thành đất du lịch sinh thái…

    Nguồn kinh phí thực hiện: Tỉnh Kiên Giang sử dụng nguồn ngân sách địa phương và các nguồn kinh phí huy động hợp pháp khác.

    Tình hình thị trường đặc khu kinh tế Phú Quốc cuối năm 2021

    Thị trường đặc khu kinh tế Phú Quốc cuối năm 2021 có vẻ khá trầm lắng. Những hoạt động đầu tư vào đất nền Phú Quốc, đầu tư vào mô hình bất động sản Phú Quốc dường như đã và đang chậm lại. Có thể do cuối năm ai cũng muốn thu hồi vốn đầu tư, cũng có thể do tâm lý chờ đợi thời cơ khiến cho thị trường đặc khu không có gì khởi sắc.

    Theo ghi nhận và quan sát của VSR, loại hình đất nền được cho là có tiềm năng đầu tư và có lượng giao dịch lớn nhất tại Phú Quốc cũng có dấu hiệu giảm nhiệt. Phần lớn giao dịch ở Phú Quốc hiện tại tập trung ở các khu trung tâm huyện đảo.

    Nhận định về thị trường phát triển của đặc khu kinh tế Phú Quốc năm 2021

    Giá đất Dương Đông luôn ở mức khá cao

    Đây là nơi được dự đoán thu hút nhà đầu tư và đất đai có giá trị cao chỉ sau thị trấn Dương Đông. Đặc biệt, những khu đất xung quanh các dự án của tập đoàn Sun Group – tập đoàn “bá chủ” Nam Phú Quốc.

    Đây là xã có những lô đất nền đã được phân cực kỳ đẹp và dịp đầu 2021 đã thu hút cả ngàn nhà đầu tư quan tâm. Giá đất nền Cửa Dương Phú Quốc cũng không hề quá đắt tại thời điểm hiện tại, dao động khoảng từ 5 triệu đồng/m2 đến khoảng 15 triệu đồng/m2.

    Ngoài những vùng trên thì Cửa Cạn, Gành Dầu, Dương Tơ, Hàm Ninh,…theo thứ tự là những vùng sẽ có tỷ lệ đầu tư và tiềm năng đất nền tại Phú Quốc khá tốt.

    Có thể nói, lợi ích của đặc khu kinh tế Phú Quốc đối với nhà đầu tư là một con số khổng lồ. Nó chứa đựng trong đó cả về mặt lợi ích đầu tư và kinh doanh duy trì. Nói không quá, nhưng tháng 5/2019 có thể chính là thời điểm mà giá đất Phú Quốc có thể bùng nổ trở lại. VSR khuyên nhà đầu tư nên cập nhật tình hình đầu tư đất Phú Quốc thường xuyên để đưa ra những lựa chọn mang tính chiến lược tốt nhất.

    Tuy nhiên, nếu Phú Quốc không lên Đặc khu, tình hình kinh tế, đầu tư đất cũng vẫn phát triển tốt. Đặc khu cũng chỉ là bước đệm để huyện đảo phát triển ngày một tốt hơn mà thôi.

    Công Ty Cổ Phần Địa Ốc Đặc Khu Kinh Tế Việt Nam

    (Source: Phương Hoa VSR)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Về Lĩnh Vực Du Lịch
  • Khách Đoàn Là Gì? Có Nên Chọn Đi Du Lịch Theo Tour Khách Đoàn?
  • Những Lợi Ích Của Việc Đi Du Lịch Theo Tour
  • 6 Lợi Ích Của Đi Du Lịch Theo Tour
  • Lợi Ích Của Du Lịch Theo Tour Cùng Công Ty Lữ Hành
  • Bài 7. Thực Hiện Nền Kinh Tế Nhiều Thành Phần Và Tăng Cường Vai Trò Quản Lí Kinh Tế Của Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 7 : Thực Hiện Nền Kinh Tế Nhiều Thành Phần… Thuchiennenkinhtenhieuthanhphan 1 Ppt
  • Kinh Tế Tư Nhân Và Các Giá Trị Chân Chính Của Nó
  • Kinh Tế Tư Nhân: Ý Nguyện Và Lợi Ích Của Đông Đảo Người Dân
  • Phát Triển Kinh Tế Tư Nhân Trở Thành Một Động Lực Quan Trọng Của Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn
  • Kinh Tế Tư Nhân Là Gì
  • Bài 7

    Thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần

    và tăng cường vai trò quản lý kinh tế của nhà nước

    Thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần

    Khái niệm thành phần kinh tế

    Tính tất yếu khách quan

    Lợi ích của nền kinh tế nhiều thành phần

    a) Khái niệm thành phần kinh tế, tính tất yếu khách quan và lợi ích của nền kinh tế nhiều thành phần

    Khái niệm thành phần kinh tế

    Là kiểu tổ chức, quan hệ kinh tế dựa trên một hình thức sở hữu tư liệu sản xuất nhất định

    Tính tất yếu khách quan của sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần

    Lợi ích của nền kinh tế nhiều thành phần

    Cho phép khai thác và phát huy các nguồn vốn và kinh nghiệm của mọi TPKT đầu tư cho sự nghiệp CNH,HĐH đất nước

    Tạo thêm nhiều việc làm, nhờ đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,giảm tỷ lệ thất nghiệp, tăng thu nhập, nâng cao đời sống, giảm tiêu cực xã hội

    b) Các thành phần kinh tế ở nước ta

    Kinh tế nhà nước : Là thành phần kinh tế dựa trên hình thức sở hữu nhà nước về TLSX.

    Tập đoàn than – khoáng sản

    Việt Nam

    Ngân hàng Nhà nước

    Việt Nam

    Trở về

    Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, nắm giữ các vị trí, các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, là LLVC quan trọng và là công cụ để NN định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế nhiều TP ở nước ta hiện nay.

    Hợp tác xã trồng rau sạch

    Hợp tác xã thủ công mỹ nghệ

    Kinh tế tập thể : là thành phần dựa trên sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất, bao gồm nhiều hình thức hợp tác đa dạng mà hợp tác xã là nòng cốt

    Hợp tác xã : là những đơn vị kinh tế được xây dựng dựa trên các nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi, quản lý dân chủ và có sự giúp đỡ của nhà nước.

    Trở về

    Vị trí : kinh tế tập thể ngày một phát triển và cùng với kinh tế nhà nước hợp thành nền tảng của chế độ mới xã hội chủ nghĩa

    Kinh tế cá thể, tiểu chủ ở Bình Định

    Trở về

    Kinh tế cá thể, tiểu chủ : dựa trên hình thức tư hữu nhỏ về TLSX và lao động của bản thân người lao động.

    Vị trí : có vị trí quan trọng trong nhiều ngành nghề, có điều kiện phát huy nhanh và hiệu quả tiềm năng về vốn, sức lao động, tay nghề của từng gia đình, từng người lao động. Do đó, việc mở rộng SX – KD của KT cá thể tiểu chủ được NN khuyến khích phát triển.

    Kinh tế tư bản tư nhân : là kiểu quan hệ kinh tế, sản xuất – kinh doanh dựa trên hình thức sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về TLSX và dựa vào lao động làm thuê.

    Vị trí : có vai trò đáng kể trong việc phát triển kinh tế thị trường, giải quyết việc làm cho người lao động, đóng góp không nhỏ vào tăng trưởng kinh tế của đất nước, do đó cần được khuyến khích phát triển trong những ngành sản xuất – kinh doanh mà pháp luật không cấm.

    Công ty Hòa phát – doanh nghiệp kinh tế tư bản tư nhân

    Trở về

    Kinh tế tư bản nhà nước : là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu hỗn hợp về vốn giữa kinh tế nhà nước với tư bản tư nhân trong nước hoặc tư bản nước ngoài thông qua các hình thức hợp tác, liên doanh.

    Vị trí :

    Là thành phần kinh tế có tiềm năng to lớn về vốn, công nghệ, khả năng tổ chức quản lý nên có những đóng góp không nhỏ vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế đất nước.

    Phát triển thành phần kinh tế này còn là giải pháp để nâng cao sức cạnh tranhvà kinh doanh có hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước ở nước ta hiện nay

    Phát triển kinh tế tư bản nhà nước là đòi hỏi khách quan, giữ vai trò là hình thức kinh tế trung gian, hình thức kinh tế quá độ, là cầu nối đưa sản xuất nhỏ lạc hậu lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ TBCN

    Công ty Toyota Việt Nam – Doanh nghiệp tư bản nhà nước

    Trở về

    Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài : là thành phần kinh tế dựa trên hình thức sở hữu vốn 100% của nước ngoài

    Vị trí :Có quy mô vốn lớn, trình độ quản lý và trình độ công nghệ cao, đa dạng về đối tác chúng tôi phép thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài

    Xu hướng phát triển : phát triển theo hướng sản xuất – kinh doanh để xuất khẩu, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội gắn với thu hút công nghệ hiện đại, tạo thêm việc làm.

    GM Daewoo – Công ty 100% vốn nước ngoài

    Trở về

    Mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế

    Các thành phần kinh tế hợp tác với nhau trong quá trình sản xuất – kinh doanh

    Các thành phần kinh tế cạnh tranh với nhau trong quá trình sản xuất – kinh doanh

    Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần góp phần giải phóng lực lượng sản xuất, thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước tạo nhiều vốn, nhiều chỗ làm việc, thay đổi bộ mặt của nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh

    c) Trách nhiệm của công dân đối với chính sách nền kinh tế nhiều thành phần

    Trách nhiệm của công dân đối với chính sách nền kinh tế nhiều thành phần

    Vận động bố mẹ và người thân trong GĐ đầu tư vốn và các nguồn lực khác vào SX, KD trong các thành phần KT, các ngành nghề và mặt hàng mà pháp luật không cấm.

    Chủ động tìm kiếm việc làm ở các ngành, các thành phần kinh tế phù hợp với khả năng bản thân sau khi tốt nghiệp

    2. Vai trò quản lý kinh tế của nhà nước

    Sự cần thiết khách quan phải có vai trò quản lý kinh tế của nhà nước

    Cơ sở lý luận

    Bản thân TT không thể giải quyết các thất bại của nó :khủng hoảng KT, lạm phát, thất nghiệp, độc quyền, ô nhiễm MT…nên cần có sự can thiệp của NN vào nền KT

    Vai trò, chức năng và công cụ quản lý kinh tế của nhà nước

    Vai trò quản lý kinh tế của nhà nước

    Chức năng và công cụ quản lý kinh tế của nhà nước

    Vai trò quản lý kinh tế của nhà nước

    Trở về

    Chức năng định hướng phát triển nền kinh tế

    Chức năng tạo hành lang pháp lý, trật tự kỷ cương của nền kinh tế

    Chức năng điều tiết vĩ mô nền KTTT

    Chức năng đảm bảo công bằng xã hội

    Trở về

    Chức năng và công cụ quản lý kinh tế của nhà nước

    Tăng cường vai trò và hiệu lực quản lý kinh tế của nhà nước

    Tiếp tục đổi mới các công cụ kế hoạch hóa, pháp luật, chính sách và cơ chế quản lý kinh tế theo hướng : đồng bộ, khuyến khích và thúc đẩy sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội đồng thời với tăng cường phép nước và giữ vững định hướng XHCN

    Tăng cường lực lượng vật chất của nhà nước để điều tiết thị trường. Giải pháp này được thực hiện thông qua việc nâng cao lực lượng dự tữ quốc gia, dự trữ lưu thông, thông qua việc tiếp tục đổi mới để nâng cao sức cạnh tranh và vai trò nòng cốt của các DNNN trong thời gian tới.

    Tiếp tục cải cách hành chính bộ máy nhà nước, chế độ công chức theo hướng tinh gọn, có năng lực, trong sạch và vững mạnh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lợi Ích Kinh Tế Của Không Gian Xanh: Không Chỉ Đo Bằng Tiền!
  • Quan Hệ Lợi Ích Kinh Tế Giữa Hộ Nông Dân Và Doanh Nghiệp Ngành Cà Phê Ở Huyện Cư M’gar, Tỉnh Đăk Lăk
  • Luận Văn Đề Tài Phân Tích Cơ Cấu Kinh Tế Nhiều Thành Phần Ở Nước Ta Mà Đại Hội Đảng Ix Đã Nêu Và Lợi Ích Của Việc Sử Dụng Nó Vào Việc Phát Triển Kinh Tế
  • Luận Văn Đề Án Phân Tích Cơ Cấu Kinh Tế Nhiều Thành Phần Ở Nước Ta Hiện Nay Và Ích Lợi Của Việc Sử Dụng Cơ Cấu Nhiều Thành Phần Đó Vào Phát Triển Kinh Tế
  • Luận Văn Tiểu Luận Lợi Ích Của Việc Thu Hút Fdi Với Sự Phát Triển Kinh Tế Ở Việt Nam Và Giải Pháp Nhằm Cải Thiện Môi Trường Đầu Tư Nước Ngoài Tại Việt Nam Để Vừa Thu Hút Được Vốn Nước Ngoài Vừa Bảo Hộ Được Các Nhà Đầu Tư Trong Nước Và Đảm Bảo Vốn Cạnh Tranh
  • Nâng Cao Vai Trò Chủ Đạo Của Kinh Tế Nhà Nước Trong Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa

    --- Bài mới hơn ---

  • Bảo Đảm Tính Chủ Đạo Của Thành Phần Kinh Tế Nhà Nước
  • Vị Trí Của Ngành Cà Phê Và Vai Trò Của Xuất Khẩu Cà Phê
  • Phát Triển Kinh Tế Tư Nhân, Một Chủ Trương Lớn Của Đảng Ta Trong Quá Trình Đổi Mới Nền Kinh Tế
  • …:: Cục Thống Kê Tỉnh Lâm Đồng ::…
  • Nội Dung Chủ Yếu, Đặc Điểm, Ưu Điểm Và Hạn Chế Của Các Phương Pháp Quản Lý
  • Thực tiễn hơn 30 năm đổi mới của đất nước đã khẳng định: Để nền kinh tế thị trường giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, cần có vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước.

    Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

    Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), với nhiều hình thức sở hữu, nhiều khu vực và thành phần kinh tế là sự kế thừa những ưu việt của kinh tế thị trường, phù hợp với đặc điểm và điều kiện cụ thể của Việt Nam. Động lực chung để phát triển mô hình kinh tế này là sự kết hợp hài hòa các lợi ích của cá nhân, tập thể và xã hội. Trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta, những yếu tố, phương tiện và công cụ của kinh tế thị trường đã được khai thác sử dụng, phát triển sáng tạo cho phù hợp với mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Tính chất xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường ngày càng được hình thành rõ nét hơn trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Một trong những công cụ để Nhà nước điều tiết là kinh tế nhà nước với vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân.

    Vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước thể hiện trên những nội dung cơ bản sau:

    Thứ nhất, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước không chỉ biểu hiện ở số lượng doanh nghiệp nhà nước, tỷ trọng đóng góp giá trị sản lượng trong GDP, mà trước hết là ở trình độ quản lý, điều tiết năng lực cạnh tranh và hiệu quả phát triển, chất lượng sản phẩm. Đầu tư vào những dự án lớn, đòi hỏi vốn lớn mà thời gian thu hồi vốn lại chậm…

    Thứ hai, trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, kinh tế nhà nước phải là trụ cột để đẩy lùi các nguy cơ chệch hướng XHCN, tụt hậu xa hơn về kinh tế, đồng thời phải là cơ sở vững chắc để khắc phục những hạn chế, khuyết tật của cơ chế thị trường.

    Thứ ba, kinh tế nhà nước phải đi đầu trong việc kết hợp với quốc phòng, an ninh để bảo đảm hài hòa theo quan điểm phát triển và ổn định của Đảng trong mọi hoàn cảnh, điều kiện. Đây là vai trò độc quyền, chủ đạo, kéo theo sự tham gia của các thành phần kinh tế khác.

    Thứ tư, kinh tế nhà nước là yếu tố bảo đảm cho nền kinh tế phát triển bền vững, cạnh tranh lành mạnh, có trách nhiệm điều phối hoạt động của các thành phần kinh tế khác theo đường lối phát triển kinh tế – xã hội của Đảng. Đặc biệt trong các lĩnh vực chủ chốt, vĩ mô của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, như xây dựng chiến lược phát triển kinh tế, xây dựng kết cấu hạ tầng, dịch vụ công, tạo điều kiện kích thích các thành phần kinh tế khác cùng phát triển. 

    Ở nước ta hiện nay, việc xác lập vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước là sự khác biệt có tính chất bản chất giữa kinh tế thị trường định hướng XHCN với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Tính định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường ở nước ta đã quyết định kinh tế nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần. Do đó, kinh tế nhà nước cần và có thể giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân vì những lý do sau:

    Trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo là đòi hỏi cấp thiết của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, là chế độ sở hữu phù hợp với xu hướng xã hội hóa của lực lượng sản xuất, bảo đảm cho nền kinh tế tránh được nguy cơ chệch hướng. 

    Mục tiêu vận động của nền kinh tế nước ta là đi lên chủ nghĩa xã hội, vì vậy, vai trò của các thành phần kinh tế trong tiến trình vận động là không thể ngang bằng nhau. Kinh tế nhà nước nắm giữ những vị trí then chốt, yết hầu, xương sống của nền kinh tế, do đó nó có khả năng, có điều kiện chi phối hoạt động của các thành phần kinh tế khác, quyết định phương hướng vận động phát triển của toàn bộ nền kinh tế.

    Kinh tế nhà nước là lực lượng bảo đảm cho sự phát triển ổn định của nền kinh tế; vừa là công cụ kinh tế quan trọng nhất để củng cố và xây dựng nhà nước XHCN ngày càng vững mạnh, từng bước hình thành trật tự kinh tế, văn hóa xã hội theo định hướng XHCN.

    Kinh tế nhà nước có thể tác động tới các thành phần kinh tế khác không chỉ bằng các công cụ và đòn bẩy kinh tế, mà còn bằng con đường gián tiếp, thông qua những thiết chế và hoạt động của kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa.

    Kinh tế nhà nước là lực lượng nòng cốt hình thành các trung tâm kinh tế, đô thị mới; là lực lượng có khả năng đầu tư vào những lĩnh vực có vị trí quan trọng, vị trí chiến lược về an ninh quốc phòng. 

    Về mặt thực tiễn, quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta những năm qua đã khẳng định rõ Đảng và Nhà nước ta thực hiện nhất quán chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhờ đó huy động được nhiều nguồn lực của mọi thành phần kinh tế vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế, làm cho tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư trên GDP đều tăng nhanh. Nền kinh tế nước ta là nền kinh tế nhiều thành phần, các thành phần kinh tế không tồn tại biệt lập, mỗi thành phần kinh tế là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân thống nhất, nhưng lại dựa trên một hình thức sở hữu nhất định về tư liệu sản xuất. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bình đẳng trước pháp luật, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, cùng phát triển lâu dài. Trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển; phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa; nguồn lực của các nhà đầu tư nước ngoài được thu hút mạnh; kinh tế cổ phần ngày càng phát triển, trở thành hình thức tổ chức kinh tế phổ biến, thúc đẩy xã hội hóa sản xuất và đầu tư. Trong những năm qua, mặc dù số lượng doanh nghiệp nhà nước có giảm đi, nhưng vẫn góp phần quan trọng để kinh tế nhà nước thực hiện vai trò chủ đạo, ổn định và phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm an sinh xã hội và nhu cầu quốc phòng, an ninh.

    Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, trong quá trình hình thành và phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta nói chung, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước nói riêng vẫn còn một số hạn chế nhất định, như: Trong các doanh nghiệp nhà nước, vấn đề quản lý, phân phối chưa được giải quyết tốt, còn có sự phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế; các loại thị trường được hình thành và phát triển chậm, thiếu đồng bộ; các nguồn lực kinh tế được phân bổ chưa đồng đều… Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế trên là do: Việc nhận thức về kinh tế thị trường định hướng XHCN còn nhiều hạn chế, công tác lý luận chưa theo kịp đòi hỏi của thực tiễn. Nền kinh tế vẫn còn trong tình trạng kém phát triển, sự chênh lệch giữa các tầng lớp dân cư, các vùng miền và các thành phần kinh tế còn cao. 

    Ở góc độ quản lý, năng lực quản lý, tổ chức thực hiện của Nhà nước còn chậm. Vai trò tham gia hoạch định chính sách, thực hiện chính sách và giám sát của các chủ thể còn yếu. Kinh tế nhà nước chưa có cơ sở kinh tế vững chắc để phát triển, hiệu quả còn rất thấp. Ngay tại thời điểm này, không ít doanh nghiệp nhà nước vẫn hoạt động không hiệu quả, thậm chí thua lỗ. Do đó, nếu tỷ trọng của kinh tế nhà nước càng lớn thì hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế càng thấp. Về nguyên tắc, những doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả cần được xem xét để chuyển sang các hình thức tổ chức sản xuất khác. Bộ máy nhà nước còn chưa ngang tầm với yêu cầu công việc, cán bộ còn chưa đồng đều, năng lực chưa cao, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của kinh tế nhà nước như là thành phần kinh tế chủ đạo. Kinh tế nhà nước lại lạm dụng các lợi thế của mình về vốn, thị trường, các mối quan hệ kinh tế và phi kinh tế làm ảnh hưởng đến lợi ích chính đáng và hợp pháp của các thành phần kinh tế khác sẽ có xu hướng giảm thiểu động lực hoạt động, dẫn đến những cạnh tranh không lành mạnh hoặc kéo theo sự trì trệ trong sản xuất và làm chậm quá trình phát triển của đất nước.

    Chính vai trò lợi thế chủ đạo của kinh tế nhà nước đang hoạt động ở nước ta đã bị những kẻ chống phá, thù địch lợi dụng, suy diễn, xuyên tạc bản chất, bóp méo sự thật về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Trước tình hình trên đòi hỏi chúng ta cần đẩy mạnh việc đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực kinh tế, không để các thế lực thù địch, tác động, chuyển hóa kinh tế, từ kinh tế chuyển hóa về chính trị; khắc phục đẩy lùi các nguy cơ chệch hướng, tụt hậu. Nhà nước cần có những quyết sách để giữ vững phát triển kinh tế theo bản chất định hướng XHCN mà Đảng đã chỉ đạo.

    Những nhiệm vụ đặt ra và giải pháp bảo đảm vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

    Để thực hiện tốt vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, giữ vững định hướng XHCN, phòng , chống nguy cơ chệch hướng trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay cần giải quyết tốt các nhiệm vụ cơ bản sau:

    Một là, tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách để kinh tế nhà nước thực sự vận hành theo cơ chế thị trường, giữ vững vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân.

    Nhìn tổng thể thì nhà nước đang dần tạo một sân chơi bình đẳng cho tất cả các thành phần kinh tế. Nhưng trên thực tế kinh tế nhà nước vẫn có nhiều lợi thế hơn so với các thành phần kinh tế khác đang cùng tồn tại. Có nhiều nguyên nhân, song có thể thấy một nguyên nhân rất quan trọng là nền kinh tế của Việt Nam phát triển theo định hướng XHCN, mà trong đó kinh tế nhà nước là nền tảng, giữ vai trò chủ đạo. Với quan điểm đó, kinh tế nhà nước luôn được chú ý đặc biệt trong hầu hết các lĩnh vực, nhất là các lĩnh vực chủ yếu, then chốt của nền kinh tế. Do đó, có thể tồn tại và phát triển, các thành phần kinh tế khác sẽ phải tìm cách để hạn chế và khắc phục sự bất cập so với kinh tế nhà nước do cơ chế đem lại cho kinh tế nhà nước. Vì vậy cần có cơ chế đa dạng hóa các hình thức sở hữu trong từng doanh nghiệp để có thể huy động tốt nhất các nguồn lực trong và ngoài nước. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, nhưng tùy từng hoàn cảnh cụ thể, không nên máy móc, câu nệ về tỷ lệ giữa các loại hình sở hữu. Sự đan xen các hình thức sở hữu ở các doanh nghiệp, các ngành, các vùng có thể khác nhau, miễn sao phát triển được lực lượng sản xuất và cải thiện được đời sống của nhân dân. Chủ trương đổi mới chế độ sở hữu gắn với tính định hướng XHCN là chủ trương coi kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế. Nhưng việc thực hiện chủ trương đó phải luôn luôn xuất phát từ yêu cầu thực tế của sản xuất và đời sống, phải coi các bộ phận kinh tế khác là những bộ phận cấu thành quan trọng không thể thiếu của nền kinh tế quốc dân, đều tham gia công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. 

    Hai là, nâng cao vai trò, hiệu lực quản lý nhà nước phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN. 

    Đây là nhiệm vụ vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính lâu dài. Nhà nước với tư cách là người điều hành, quản lý kinh tế vĩ mô, Nhà nước định hướng, điều tiết đầu tư của các chủ thể kinh tế vào phát triển kinh tế – xã hội; phân bổ, quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của mình. Phải đưa các doanh nghiệp nhà nước vào hoạt động trong môi trường liên kết, cạnh tranh, bình đẳng với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Các doanh nghiệp phải công khai, minh bạch thông tin về hoạt động kinh tế (trừ các thông tin về bí mật quốc gia, bí quyết công nghệ kinh doanh của doanh nghiệp).

    Đổi mới cơ chế thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu của nhà nước và cơ chế giám sát hoạt động các doanh nghiệp nhà nước, nhằm hướng tới thiết lập trật tự kỷ cương trong hoạt động kinh tế. Đây là điều kiện tốt nhất cần thiết để bảo toàn và phát triển vốn thuộc sở hữu nhà nước; bảo đảm vốn của Nhà nước hướng vào các mục tiêu ưu tiên phục vụ phát triển kinh tế – xã hội. Cần tách bạch chức năng chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước ra khỏi chức năng quản lý nhà nước, không để tình trạng cán bộ vừa là chủ sở hữu, vừa ban hành chính sách, vừa kiểm soát thị trường dẫn đến xung đột lợi ích khi điều hành hoạt động của doanh nghiệp nhà nước. Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế thực hiện mối quan hệ giữa chủ sở hữu và đại diện chủ sở hữu trong các tập đoàn kinh tế. Để quản lý chặt chẽ hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước, nhà nước cần chỉ đạo thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát; gắn kiểm tra, giám sát bên ngoài doanh nghiệp với kiểm tra, giám sát nội bộ doanh nghiệp một cách thực tế và hiệu lực cao.

    Ba là, sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước. Khu vực kinh tế nhà nước chỉ có thể giữ được vai trò chủ đạo, chi phối khi hoạt động sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, đóng vai trò then chốt trong việc ứng dụng, phát triển khoa học – kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, liên kết được các thành phần kinh tế khác trong sự phát triển, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế – xã hội trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Thực chất của việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là chuyển đổi sở hữu tài sản của Nhà nước cho các cổ đông sở hữu. Đó là một trong các hình thức đa dạng hóa sở hữu các doanh nghiệp nhà nước, nhằm xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, phát triển theo định hướng XHCN.

    Ngoài ra, các hình thức khác, như khoán, cho thuê tài sản, cửa hàng, sát nhập và liên doanh cũng là những hình thức được sử dụng khá phổ biến và làm cho mức đa dạng hóa các sở hữu doanh nghiệp nhà nước thêm phong phú và mang lại hiệu quả tích cực cho sự phát triển của nền sản xuất xã hội. Đặc biệt là trong khu vực nông, lâm, ngư nghiệp và dịch vụ. Kiên trì nguyên tắc: “Nhà nước chỉ làm những gì mà tư nhân không muốn làm hoặc không thể làm được, khi đã tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ từ phía Nhà nước”. Tiếp tục đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, kể cả các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước, tập trung tháo gỡ tình trạng cổ phần hóa mang tính khép kín, khắc phục những vướng mắc, tiêu cực khi tính giá thương hiệu, quyền sử dụng đất, tài sản doanh nghiệp và lợi ích nhóm trong quá trình cổ phần hóa. Ban hành các quy định, hướng dẫn cụ thể để thực hiện việc sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước theo ngành, lĩnh vực kinh doanh không phân biệt cấp, cơ quan quản lý. Tiếp tục nghiên cứu mô hình tổ chức thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước bảo đảm phù hợp, hiệu quả. 

    Bốn là, phát triển kinh tế nhà nước đi đôi với tăng cường sức mạnh an ninh – quốc phòng.

    Một đất nước ổn định chính trị, quốc phòng, an ninh sẽ là điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội. Các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, ngoài nhiệm vụ kinh tế cần tham gia nhiệm vụ an ninh, quốc phòng và thực hiện chính sách an sinh xã hội. Không chỉ chú trọng vào nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh, các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước cần nâng cao vai trò trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, vừa là nhân tố trọng yếu để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế nhanh, bền vững ở nước ta hiện nay. Phát triển kinh tế nhà nước là cơ sở tăng cường quốc phòng, an ninh, xây dựng môi trường kinh tế ổn định, xây dựng kết cấu hạ tầng bền vững, phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, quan hệ sản xuất phù hợp. Bảo vệ Tổ quốc không còn bó hẹp trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng, an ninh mà được mở rộng đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội… theo quan điểm của Đảng ta là kết hợp kinh tế, văn hóa, xã hội với quốc phòng, an ninh; quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội. Tăng cường quốc phòng, an ninh phải đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên hàng đầu, phải tạo được một môi trường hòa bình, ổn định, trật tự và an toàn xã hội, tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế phát triển, mọi công dân yên tâm sản xuất, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, lấy đó làm điểm tương đồng trong nhận thức và hành động bảo vệ Tổ quốc của mọi giai cấp, tầng lớp, trong đó nâng cao vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước./.

    TS.Nguyễn Thị Thúy

    Phó trưởng Khoa Kinh tế chính trị, Học viện Chính trị Công an nhân dân

     

    Nguồn: Tạp chí Cộng sản điện tử

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Cần Thiết Phải Tiếp Tục Khẳng Định Vai Trò Chủ Đạo Của Kinh Tế Nhà Nước Trong Hiến Pháp
  • Tác Động Của Hội Nhập Quốc Tế Với Mối Quan Hệ Giữa Nhà Nước Và Hội Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Chi Tiết Về Tổ Chức Quốc Tế
  • Lợi Ích Khổng Lồ Cho Nhà Đầu Tư — Đông Tây Land
  • Đặc Khu Kinh Tế Là Gì? Những Ưu Đãi Khi Đầu Tư Vào Đặc Khu Kinh Tế
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50